Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng là sự kiện chính trị trọng đại, có ý nghĩa quyết định đối với tương lai phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh thế giới đang có những thay đổi nhanh chóng, sâu sắc, khó lường; trong nước đang triển khai mạnh mẽ các quyết sách chiến lược rất quan trọng, các văn kiện trình Đại hội XIV không chỉ tổng kết chặng đường phát triển 5 năm qua, xác định mục tiêu, nhiệm vụ trong 5 năm tới mà còn định hình tư duy chiến lược, tầm nhìn và định hướng phát triển đất nước đến giữa thế kỷ XXI. Các Dự thảo Văn kiện trình Đại hội XIV với kết cấu, nội dung có nhiều đổi mới đã thể hiện tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá khách quan tình hình, trên cơ sở đó đề ra hệ quan điểm chỉ đạo, mục tiêu phát triển đất nước, các định hướng, nhiệm vụ trọng tâm và các giải pháp đột phá để phát triển nhanh và bền vững đất nước, thể hiện khát vọng vươn mình mạnh mẽ của cả dân tộc trong kỷ nguyên mới.

Trên cơ sở dự thảo Văn kiện Đại hội XIV, Bộ Chính trị đã chỉ đạo ban hành các nghị quyết mới là các quyết sách chiến lược quan trọng làm cơ sở, động lực, đột phá cho sự phát triển nhanh, bền vững đất nước trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc và được tiếp tục chắt lọc, cập nhật, phát triển trong Dự thảo Báo cáo chính trị nhằm: (1) Thể chế hoá các chủ trương, chính sách chỉ đạo của Đảng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, xây dựng nền tảng pháp lý và khung thể chế, tạo hành lang minh bạch cho mọi quyết sách. (2) Tiếp tục chủ động, tích cực, đẩy mạnh hội nhập quốc tế sâu rộng không chỉ nâng cao vị thế đối ngoại mà còn huy động nguồn lực toàn cầu, bảo vệ lợi ích quốc gia và mở rộng thị trường cho đổi mới sáng tạo. (3) Kích hoạt chiến lược đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia là động lực chính, hình thành các chuỗi giá trị mới gắn liền với đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, chuyển đổi cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực, trọng tâm là phát triển trí tuệ nhân tạo. (4) Xác định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế, thúc đẩy khởi nghiệp và phát triển mạnh mẽ các loại hình kinh tế tư nhân, khai thác hiệu quả vốn, đất đai và công nghệ, tạo sức bật đa chiều cho tăng trưởng năng động, linh hoạt và bền vững. (5) Tiếp tục thực hiện chủ trương chuyển đổi năng lượng quốc gia hướng tới cân bằng giữa nguồn năng lượng truyền thống và tái tạo; triển khai lưới điện thông minh, bảo đảm an ninh năng lượng phục vụ phát triển trong bối cảnh mới. (6) Tập trung chuyển đổi cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực với trọng tâm là phát triển hệ thống giáo dục quốc dân hiện đại, mở và hội nhập với các chủ trương, chính sách ưu tiên, đặc thù để đổi mới mạnh mẽ nền giáo dục quốc dân; gắn kết và đẩy mạnh nghiên cứu, đào tạo với phát triển thị trường lao động trong nước, quốc tế để đào tạo nhân lực chất lượng cao đáp ứng nhanh yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. (7) Thực hiện chủ trương, chính sách chăm sóc sức khoẻ toàn dân và nâng cao đời sống, hạnh phúc của Nhân dân, trọng tâm bảo đảm mạng lưới y tế cơ sở vững chắc, y tế dự phòng chủ động và ứng dụng công nghệ số trong quản lý y tế, để mỗi công dân đều được hưởng dịch vụ y tế chất lượng cao. Sự kết nối logic từ khung thể chế đến động lực kinh tế, công nghệ, quản trị hiện đại và phát triển con người đã tạo nên một hệ sinh thái phát triển nhanh, bền vững, không chỉ vạch rõ lộ trình mà còn huy động sức mạnh tổng hợp toàn xã hội, hiện thực hoá khát vọng phát triển đất nước đến năm 2045.

Trong số các quyết sách quan trọng nêu trên, việc “tiếp tục chủ động, tích cực, đẩy mạnh hội nhập quốc tế sâu rộng” là một trong những hoạt động cốt lõi gắn liền với vai trò của Văn phòng Ban Chỉ đạo liên ngành hội nhập quốc tế về kinh tế (BCĐLNKT).

I. Đối ngoại, hội nhập quốc tế được khẳng định là nhiệm vụ trọng yếu song hành với quốc phòng, an ninh:

Quan điểm chỉ đạo thứ hai trong Dự thảo Báo cáo chính trị viết "... tăng cường quốc phòng, an ninh và đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế là trọng yếu, thường xuyên". Việc Trung ương lần đầu tiên xác định "đối ngoại, hội nhập quốc tế" đặt ngang hàng với quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên đã mở ra một khung chiến lược toàn diện hơn cho công tác bảo vệ Tổ quốc, đánh dấu sự đổi mới về tầm nhìn chiến lược của Đảng trong bối cảnh hội nhập sâu rộng và cạnh tranh địa chính trị, kinh tế toàn cầu ngày càng gay gắt.

Từ Cương lĩnh 1991 đến Đại hội XIII, đối ngoại luôn được nhắc đến như một trong những nhiệm vụ quan trọng, nhưng chưa được xác định thành nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên. Dự thảo lần này cho thấy rõ đối ngoại là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị chứ không phải nhiệm vụ riêng của ngành đối ngoại, trong đó ngoại giao là nòng cốt. Điều quan trọng hơn đây là vấn đề kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; là nguồn lực bên trong quyết định với nguồn lực bên ngoài là quan trọng; là vấn đề đối tác, đối tượng... Mặt khác, trong nhiệm kỳ qua đối ngoại là lĩnh vực rất thành công của ta trong bối cảnh thế giới thay đổi nhanh, phức tạp, khó dự báo.

Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh: Mặc dù hoà bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, song tình hình thế giới diễn biến rất nhanh, phức tạp, tác động đa chiều đến môi trường an ninh, phát triển của nước ta. Trong bối cảnh đó, nhiệm vụ đối ngoại không còn là nhất thời mà phải liên tục, theo dõi và điều phối chính sách theo từng diễn biến mới.

Trên thực tế, với tình hình kinh tế và chính trị thế giới diễn biến vô cùng phức tạp trong năm vừa qua, tiêu biểu là tình hình chiến sự Nga - Ukraine, Israel - Palestine, Israel - Iran và Hoa Kỳ; các cuộc bạo loạn tại Bangladesh, Nepal, Indonesia… và mới đây là sự kiện giữa Hoa Kỳ - Venezuela khiến các quốc gia trở nên quan ngại hơn bao giờ hết với đường hướng ngoại giao của Hoa Kỳ hiện tại. Về mặt quan hệ ngoại giao, Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu (EU) có xu hướng biến động theo chiều hướng trái ngược với quan hệ Nga - Trung Quốc: Trong khi Hoa Kỳ và EU còn đối mặt nguy cơ rạn nứt sâu hơn, thì quan hệ giữa Nga và Trung Quốc được dự báo tiếp tục được củng cố. Tổng thống Mỹ Donald Trump nhiều khả năng sẽ duy trì các kênh tiếp xúc với Nga và Trung Quốc, trong khi EU tiếp tục lập trường cứng rắn với Nga và chưa sẵn sàng cải thiện đáng kể quan hệ với Trung Quốc. Cục diện này tạo ra những lợi thế tương đối rõ nét hơn cho Nga và Trung Quốc so với Hoa Kỳ và EU.

Trước tình hình thế giới ngày càng trở nên khó đoán, việc xác lập đối ngoại, hội nhập quốc tế là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên cho phép nâng cao vai trò của Bộ Ngoại giao, các cơ quan làm công tác đối ngoại và hệ thống ngoại vụ cấp tỉnh. Cơ chế "ba trụ cột" Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại sẽ thúc đẩy hợp tác liên ngành, tăng cường cán bộ chuyên trách, xây dựng đội ngũ chuyên gia ngoại giao kinh tế, văn hoá, công nghệ, kỹ thuật... nhằm chủ động khai thác cơ hội, ứng phó kịp thời, hiệu quả với các thách thức.

Quan điểm chỉ đạo này là cơ sở để tạo lập các phương thức ngoại giao, như: "ngoại giao kinh tế", "ngoại giao văn hoá", "đối ngoại quốc phòng, an ninh" "ngoại giao công nghệ"... để thu hút vốn, công nghệ, nguồn lực quốc tế và gia tăng sức mạnh mềm quốc gia. Mạng lưới ngoại giao sẽ được số hoá, tận dụng dữ liệu lớn để phân tích, dự báo, mở rộng quan hệ với các tổ chức đa phương, khối kinh tế, đồng thời phát huy vai trò các địa phương trong thúc đẩy xuất khẩu, thu hút đầu tư nước ngoài, quảng bá hình ảnh quốc gia. Việc bổ sung đối ngoại, hội nhập quốc tế vào nhóm nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên không chỉ thay đổi tư duy mà là đòn bẩy chiến lược, đưa đối ngoại, hội nhập quốc tế trở thành công cụ cốt lõi của an ninh quốc gia và phát triển bền vững. Sự đổi mới này khẳng định Việt Nam quyết tâm chủ động, linh hoạt và toàn diện trong vận dụng sức mạnh mềm, nâng cao vị thế trên trường quốc tế.

II. Vai trò của Văn phòng BCĐLNKT trong công cuộc đối ngoại và hội nhập quốc tế:

Ban Chỉ đạo liên ngành hội nhập quốc tế về kinh tế (viết tắt là BCĐLNKT) được tổ chức và hoạt động trên cơ sở kế thừa Ủy ban Quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế (thành lập từ năm 1998) nhằm thống nhất chỉ đạo của Chính phủ đối với quá trình Việt Nam gia nhập và hoạt động trong các tổ chức kinh tế. Hoạt động của BCĐLNKT gồm (1) Nghiên cứu, đề xuất, tham mưu, tư vấn cho Trưởng Ban Chỉ đạo quốc gia các chủ trương, chính sách lớn, chiến lược, kế hoạch, chương trình hành động của Chính phủ về hội nhập kinh tế quốc tế; (2) Nghiên cứu, đề xuất, tham mưu cho Trưởng Ban Chỉ đạo quốc gia về các chủ trương và định hướng đàm phán hội nhập kinh tế quốc tế chung để làm cơ sở cho việc xây dựng phương án đàm phán của các Bộ, ngành; (3) Giúp Trưởng Ban Chỉ đạo quốc gia chỉ đạo và phối hợp hoạt động của các Bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp trong việc Việt Nam tham gia các hoạt động kinh tế - thương mại trong Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Diễn đàn Hợp tác Á - Âu (ASEM), Tổ chức thương mại thế giới (WTO), Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC) và các tổ chức, các diễn đàn và hiệp định kinh tế - thương mại quốc tế, khu vực khác; (4) Giúp Trưởng Ban Chỉ đạo quốc gia chỉ đạo các Bộ, ngành thực hiện việc điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách về kinh tế, thương mại trong nước để thích ứng với các định chế, các tổ chức kinh tế - thương mại quốc tế và khu vực mà Việt Nam tham gia; (5) Giúp Trưởng Ban Chỉ đạo quốc gia chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc các Bộ, ngành, các địa phương và đơn vị thực hiện các chủ trương, chính sách, chiến lược, kế hoạch của Chính phủ, các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, các nghĩa vụ đã cam kết trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế; thực hiện các cam kết và nghĩa vụ, cũng như bảo hộ các quyền và lợi ích của Việt Nam trong các tổ chức kinh tế - thương mại quốc tế và khu vực; (6) Phối hợp với các Bộ, ngành, các cơ quan và địa phương tiến hành công tác phổ biến, thông tin, tuyên truyền và bồi dưỡng kiến thức về chủ trương, đường lối và các nội dung của hội nhập kinh tế quốc tế; (7) Tổng hợp và định kỳ báo cáo Trưởng Ban Chỉ đạo quốc gia về tình hình triển khai các nhiệm vụ về hội nhập kinh tế quốc tế.

Với tư cách là cơ quan giúp việc thường trực của Ban Chỉ đạo liên ngành hội nhập quốc tế về kinh tế, Văn phòng BCĐLNKT có vai trò tham mưu, giúp việc, triển khai thực hiện các hoạt động liên ngành và các công việc thường xuyên của BCĐLNKT như đôn đốc, điều phối triển khai các hoạt động liên quan đến hội nhập kinh tế quốc tế; tham mưu chính sách về hội nhập kinh tế quốc tế; tham gia công tác đàm phán và thực thi các FTA; tuyên truyền và phổ biến thông tin… Một số hoạt động tiêu biểu có thể kể đến như: xây dựng Báo cáo “Tổng kết đánh giá việc tham gia các hiệp định thương mại tự do (FTA) giai đoạn 2012 - 2023 và kiến nghị phương hướng hội nhập kinh tế quốc tế thời gian tới”; phối hợp các bộ, ngành xây dựng phương án đàm phán, đảm bảo thực thi đầy đủ các cam kết và nghĩa vụ thành viên trong các FTA giữa ASEAN với các đối tác; tổ chức các đoàn công tác tham gia đàm phán nâng cấp, đàm phán mới và thực thi các FTA giữa ASEAN với các đối tác, các Hiệp định thương mại tự do như CPTPP, UKVFTA, EVFTA, EFTA...; chủ trì xây dựng phóng sự về hội nhập kinh tế quốc tế và thực thi các FTA nhằm phổ biến thông tin tuyên truyền về các chủ trương và thành tựu theo từng giai đoạn phát triển của đất nước, góp phần vào công cuộc đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế của quốc gia.

Nguồn: Văn phòng BCĐLNKT