Tin tức

Cơ quan chuyên môn khuyến nghị điều này tới địa phương, hiệp hội ngành hàng, doanh nghiệp, nhân việc EU dự thảo quy định mới về dư lượng thuốc bảo vệ thực vật (MRL).

Cẩn trọng với mặt hàng rau quả, chè, cà phê 

Tại Hội nghị Thông tin về dự thảo quy định mới của EU liên quan đến dư lượng thuốc bảo vệ thực vật (MRL) sáng 25/3, Phòng An toàn thực phẩm và Môi trường (Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật) cho biết, xu hướng chung là thu hẹp đáng kể các ngưỡng dư lượng cho phép, tiến tới đồng bộ tiêu chuẩn giữa hàng sản xuất trong EU và hàng nhập khẩu.

Điểm đáng chú ý là nguyên tắc “chất bị cấm tại EU thì không được phép tồn dư trong hàng nhập khẩu” đang dần thay thế cơ chế linh hoạt trước đây. Theo đó, EU đề xuất áp dụng mức dư lượng mặc định 0,01 mg/kg - gần như tương đương với ngưỡng “không phát hiện”. Mức này sẽ áp dụng với các hoạt chất không được EU phê duyệt hoặc bị đánh giá có nguy hại.

Ngoài ra, EU còn thay đổi cách tiếp cận trong đánh giá rủi ro. Nếu trước đây tiêu chuẩn dựa trên mức độ phơi nhiễm thực tế, thì nay chuyển sang đánh giá theo đặc tính nguy hại. Chỉ cần 1 hoạt chất có khả năng gây ung thư, rối loạn nội tiết hoặc ảnh hưởng hệ sinh thái, nó có thể bị cấm mà không cần chứng minh nguy cơ cụ thể trong thực tế sử dụng.

Trước thời điểm áp dụng quy định mới, EU vẫn cho phép tiêu thụ sản phẩm được sản xuất từ trước, nhưng doanh nghiệp xuất khẩu phải cung cấp bằng chứng thực hiện khuyến nghị, dựa trên thực tế triển khai. Nếu không, lô hàng vẫn có thể bị loại. 

Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Nguyễn Quý Dương cho biết, từ cuối tháng 1/2026, Cục đã có văn bản gửi địa phương, hiệp hội ngành hàng và doanh nghiệp, thông tin về những thay đổi từ phía EU. Đến thời điểm hiện tại, việc tổng hợp ý kiến góp ý từ các bên đang được đẩy nhanh để kịp gửi tới phía châu Âu trước thời hạn.

Theo ông Dương, điểm đáng lo ngại là mức siết chặt trong quy định mới có thể tác động trực tiếp đến nhiều nhóm nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Trong đó, rau quả, chè và cà phê là những ngành hàng chịu ảnh hưởng lớn do đặc thù sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất.

Ông nhấn mạnh yêu cầu cấp thiết hiện nay là các địa phương phải nhanh chóng truyền đạt thông tin tới từng tổ chức, cá nhân sản xuất và doanh nghiệp xuất khẩu trên địa bàn. Việc nắm bắt sớm quy định mới sẽ giúp các đơn vị chủ động điều chỉnh quy trình sản xuất, tránh rơi vào thế bị động khi quy định chính thức có hiệu lực.

“Với những hoạt chất đã nằm trong diện kiểm soát hoặc có nguy cơ bị cấm, giải pháp tốt nhất là không sử dụng và tìm chất thay thế phù hợp”, ông Dương nói, đồng thời lưu ý rằng ngay cả khi đã ngừng sử dụng, việc tồn dư ở mức cực thấp vẫn có thể xảy ra, khiến doanh nghiệp gặp rủi ro khi xuất khẩu.

Dẫn bài học từ cà phê, khi EU siết chặt với Glyphosate, ngành đã mất nhiều năm điều chỉnh, từ thay đổi thói quen canh tác đến chuyển sang các biện pháp không hóa chất hoặc sử dụng hoạt chất thay thế. Tuy nhiên, ngay cả những chất từng được khuyến nghị thay thế cũng đang tiếp tục bị EU đưa vào diện xem xét hạn chế, cho thấy xu hướng siết chặt ngày càng mạnh.

Điều này đặt ra yêu cầu thay đổi căn bản trong sản xuất, không chỉ dừng ở việc thay thế hoạt chất mà cần giảm phụ thuộc vào hóa chất nói chung. Các biện pháp canh tác như làm cỏ thủ công, quản lý dịch hại tổng hợp hay kiểm soát sinh học được ông Dương nhắc đến như hướng đi bền vững, lâu dài, dù chi phí và công sức ban đầu có thể cao hơn.

Để thích ứng tốt hơn với quy định mới, Phó Cục trưởng Nguyễn Quý Dương khuyến nghị doanh nghiệp tăng cường kiểm tra hàng hóa trước khi xuất khẩu, coi đây là bước đi gần như bắt buộc nếu muốn giảm nguy cơ bị trả hàng. Một số việc có thể chủ động như lấy mẫu, phân tích theo đúng danh mục hoạt chất mà EU đang kiểm soát.

"Một khi hàng hóa bị cảnh báo hoặc trả về, hệ quả không chỉ dừng ở thiệt hại tài chính cho lô hàng đó mà còn có thể kéo theo việc bị tăng tần suất kiểm tra. Có những nông sản hiện chịu tần suất kiểm tra tới 50%", ông Dương nhấn mạnh. Đồng thời chỉ rõ, việc nâng tiêu chuẩn là xu hướng chung của thị trường quốc tế. Câu chuyện không còn là đáp ứng một quy định cụ thể mà là khả năng thích ứng dài hạn của toàn bộ chuỗi sản xuất.  

Tự tin thích ứng quy định mới

Một số hiệp hội, doanh nghiệp cho rằng, những thay đổi từ EU có thể đem tới thách thức nếu không kiểm soát ngay từ khâu canh tác, nguyên liệu đầu vào. Bởi trước đây, doanh nghiệp vẫn có một mức dung sai về MRL nhất định, được EU quy định riêng cho hàng nhập khẩu. Nhưng nay mọi tiêu chuẩn đều ngang với hàng hóa EU.

Chi phí tuân thủ, từ kiểm nghiệm, chứng nhận đến tổ chức lại chuỗi sản xuất là những trăn trở, đặc biệt với những doanh nghiệp quy mô nhỏ hoặc phụ thuộc vào vùng nguyên liệu phân tán.

Phó Giám đốc Văn phòng SPS Việt Nam Ngô Xuân Nam trấn an điều này và chỉ rõ một số nông sản Việt từng bị kiểm soát chặt nhưng nay đã tuân thủ nghiêm quy định của EU. "Từ đầu năm 2026, thanh long và chanh leo không nhận bất cứ cảnh báo vi phạm nào từ phía bạn", ông nhấn mạnh.

Vấn đề, theo ông Nam, là sự chủ động góp ý đối với các dự thảo quy định quốc tế từ địa phương, hiệp hội ngành hàng, doanh nghiệp. “Chúng ta phải hình dung một bức tranh rộng hơn, không chỉ riêng MRL mà còn hàng loạt thay đổi về kiểm dịch, an toàn thực phẩm, kháng sinh… từ nhiều thị trường. Mỗi ngày có thể có hàng trăm thông báo được phát đi, nhưng khả năng tiếp cận và phản hồi của chúng ta còn rất hạn chế”, ông nói.

Điều này khiến tiếng nói của Việt Nam trong giai đoạn xây dựng chính sách thương mại quốc tế còn mờ nhạt, dù các quy định đó ảnh hưởng trực tiếp tới xuất khẩu.

Nguyên nhân được chỉ ra, là hệ thống truyền tải thông tin chưa hiệu quả. Nhiều doanh nghiệp thậm chí chưa kịp tiếp cận thông báo mới thì quy định đã tiến sát thời điểm áp dụng. Để khắc phục, Văn phòng SPS Việt Nam đề xuất đẩy mạnh chuyển đổi số, rút ngắn thời gian đưa thông tin từ Trung ương đến hiệp hội và doanh nghiệp.

“Chúng ta có quyền góp ý với những thay đổi của thị trường nhập khẩu, theo cơ chế của WTO, nhưng lâu nay chưa tận dụng tốt quyền này”, ông Nam nói thêm. Trong khi, nhiều quốc gia và hiệp hội ngành hàng trên thế giới tham gia rất tích cực, gửi ý kiến chi tiết nhằm bảo vệ lợi ích sản xuất trong nước.

Việc góp ý không chỉ là quyền mà còn là cách bảo vệ chính mình. Nếu không tham gia từ đầu, khi quy định được ban hành, toàn bộ chi phí thích ứng sẽ do doanh nghiệp gánh chịu.

Việt Nam không phải chưa từng làm được điều này. Trước đây, cơ quan chức năng và doanh nghiệp đã từng phối hợp góp ý để EU điều chỉnh một số mức MRL với sản phẩm hồ tiêu. Kinh nghiệm này cho thấy nếu có đủ dữ liệu và lập luận, việc tác động đến quy định quốc tế là khả thi.

Từ thực tế này, ông Nam kêu gọi các hiệp hội ngành hàng đóng vai trò trung gian, tập hợp ý kiến từ doanh nghiệp để gửi về cơ quan quản lý. Đồng thời, các địa phương cần chủ động hơn trong việc phản ánh vướng mắc phát sinh trong quá trình sản xuất và xuất khẩu.

Trong bối cảnh các tiêu chuẩn toàn cầu ngày càng khắt khe, việc “đi sau” trong tiếp cận thông tin và phản hồi chính sách có thể khiến nông sản Việt mất lợi thế. Ngược lại, nếu tham gia sớm và chủ động, doanh nghiệp không chỉ giảm rủi ro mà còn có cơ hội định hình một phần luật chơi trên trường quốc tế.

Nguồn: Báo Nông nghiệp và Môi trường