PHÁT HUY NỘI LỰC – NỀN TẢNG BỀN VỮNGCỦA HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

28/12/2017 | 00:00:00

Đã hơn 30 năm kể từ khi Việt Nam bắt đầu tiến hành công cuộc đổi mới, mở cửa nền kinh tế. Qua các kỳ đại hội Đảng, tư tưởng và chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng ta đã có những bước phát triển phù hợp với tình hình thế giới và trong nước: từ hội nhập rồi chủ động hội nhập, đến chủ động, tích cực hội nhập kinh tế sâu hơn và đầy đủ hơn với khu vực và thế giới.

Đến Đại hội Đảng lần thứ XI, chủ trương này đã được nâng lên một tầm cao mới với quan điểm “thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế...”. Như vậy, hội nhập giờ đây không chỉ giới hạn trong lĩnh vực kinh tế mà chuyển sang hội nhập toàn diện với trọng tâm là hội nhập kinh tế quốc tế, như Nghị quyết 22-NQ/TW của Bộ Chính trị đã nêu rõ: “Hội nhập kinh tế là trọng tâm, hội nhập trong các lĩnh vực khác phải tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế và góp phần tích cực vào phát triển kinh tế, củng cố quốc phòng, bảo đảm an ninh quốc gia, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, thúc đẩy phát triển văn hóa, xã hội; hội nhập trong các lĩnh vực phải được thực hiện đồng bộ trong một chiến lược hội nhập quốc tế tổng thể với lộ trình, bước đi phù hợp với điều kiện thực tế và năng lực của đất nước”.

Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, nội lực của đất nước, xét trên phương diện kinh tế, đã được xây dựng, củng cố và ngày càng phát triển, thể hiện trên các phương diện sau:

Từ một nước nghèo đói do phải chịu hậu quả chiến tranh nặng nề, Việt Nam đã vượt qua nhiều khó khăn thách thức để ổn định kinh tế vỹ mô, duy trì được tốc độ tăng trưởng khá, tiềm lực và quy mô của nền kinh tế đã tăng lên. Đặc biệt, nước ta đã ra khỏi tình trạng kém phát triển và trở thành nước có thu nhập trung bình. GDP đầu người từ mức 100 USD/người năm 1990 đã đạt hơn 1000 USD/người năm 2008 và gần 2.400 USD người năm 2017. Nhờ đó, Việt Nam đã được biết đến như một trong những điển hình phát triển thành công ấn tượng nhất trong 2 thập kỷ qua.

Cơ cấu kinh tế của đất nước chuyển dịch mạnh sang công nghiệp và dịch vụ theo hướng ngày càng hiện đại. Chúng ta đã củng cố và phát triển được các ngành nền tảng, chủ chốt để đảm bảo độ an toàn cần thiết cho nền kinh tế, trước hết là giữ vững an ninh lương thực, an toàn năng lượng và an toàn tài chính quốc gia. Nhiều mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam đã bắt đầu tìm được chỗ đứng và từng bước khẳng định vị trí trên thị trường khu vực và thế giới. Nếu như năm 2010, xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt 71 tỷ USD  thì đến năm 2016 đã tăng hơn gấp đôi, đạt 175,9 tỷ USD. Cơ cấu hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam đã có sự chuyển dịch khá tích cực theo hướng tăng dần tỷ trọng nhóm hàng chế biến, chế tạo và giảm dần hàng xuất khẩu thô. Thị trường ngoài nước ngày càng mở rộng, đa dạng. Số lượng thị trường xuất nhập khẩu đến nay đã lên tới trên 240 thị trường, trong đó năm 2016 có tới 29 thị trường xuất khẩu và 19 thị trường nhập khẩu đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD. Các chủ thể tham gia xuất nhập khẩu không ngừng được mở rộng, đa dạng hoá và hoạt động ngày càng hiệu quả.

Bên cạnh đó, thị trường trong nước cũng ngày càng phát triển, xuất hiện các nhân tố mới, nổi bật nhất là sự tăng lên nhanh chóng số lượng các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực thương mại, chủ yếu là dịch vụ phân phối hàng hóa. (Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, cả nước hiện có khoảng hơn 600 ngàn doanh nghiệp đang hoạt động. Số lượng các doanh nghiệp đăng ký thành lập mới ngày càng tăng qua các năm, kỷ lục như năm 2016, có tới 110.100 doanh nghiệp đăng ký thành lập). Sau nhiều năm doanh nghiệp nhà nước là thành phần chủ yếu tham gia dịch vụ phân phối hàng hóa, đến nay có nhiều thành phần kinh tế tham gia với số lượng ngày một tăng, tạo nhiều việc làm cho nền kinh tế, trong đó có trên 2,5 triệu cá nhân, hộ gia đình...

Hàng hóa cung ứng trên thị trường ngày càng phong phú về quy cách, chủng loại và chất lượng, cân đối cung cầu những mặt hàng trọng yếu được bảo đảm, đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế và tiêu dùng của nhân dân.Công tác quản lý thị trường được triển khai quyết liệt, tình trạng gian lận thương mại, đầu cơ, buôn lậu được kiểm soát ngày càng chặt chẽ…

Môi trường đầu tư, kinh doanh được cải thiện. Trong quá trình đàm phán và sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), chúng ta đã tích cực chỉnh sửa, ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật, hoàn thiện hệ thống luật phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế. Các chính sách kinh tế đã được điều chỉnh theo hướng minh bạch và thông thoáng hơn cho các doanh nghiệp, mở cửa thị trường hàng hóa, dịch vụ, tạo sự bình đẳng cho cả doanh nghiệp trong nước và nước ngoài. Cải cách hành chính trong đăng ký kinh doanh và cấp giấy chứng nhận đầu tư được đẩy mạnh, quy trình thủ tục xuất nhập khẩu thuận lợi hơn, cơ chế một cửa ở một số địa phương đã được thực hiện tốt, các thủ tục liên quan đến đăng ký kinh doanh và cấp giấy chứng nhận đầu tư đã đơn giản và nhanh chóng hơn. Điều này đã khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài tăng cường đầu tư vào Việt Nam cũng như mạnh dạn hơn trong việc tăng vốn, mở rộng quy mô các dự án đầu tư.

Nội lực kinh tế được tăng cường đã giúp cho Việt Nam ngày càng tự tin trên con đường hội nhập và nâng cao vị thế trên trường quốc tế. Đổi lại, sự tích cực, chủ động hội nhập kinh tế trong những năm qua đã góp phần đưa nền kinh tế Việt Nam ngày càng phát triển.

Đến nay, Việt Nam đã trở thành thành viên của các tổ chức và diễn đàn hợp tác kinh tế quốc tế quan trọng như Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Thái Bình Dương (APEC), Diễn đàn hợp tác Á – Âu (ASEM), Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Tại các diễn đàn quốc tế và khu vực, Việt Nam đã chủ động đề xuất các sáng kiến, tham gia các hoạt động, chương trình hợp tác theo đúng phương châm: “là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”. Nổi bật là trong hợp tác nội khối ASEAN, Việt Nam đang cùng với các nước thành viên tập trung nỗ lực để hoàn thành Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) vào tháng 12 năm 2015. Trong hợp tác APEC, Việt Nam đã 2 lần tổ chức thành công Hội nghị Cấp cao APEC, đóng góp tích cực vào tiến trình tự do hóa thương mại, đầu tư và hòa bình, ổn định trong khu vực.

Bên cạnh đó, Việt Nam đã và đang thực hiện nghiêm túc các cam kết trong khuôn khổ WTO và các Hiệp định thương mại tự do (FTA) đã ký kết. Đến nay, Việt Nam đã thực thi 10 FTA, bao gồm 6 FTA trong khuôn khổ hợp tác ASEAN nội và ngoại khối; và 4 FTA song phương (với Nhật Bản, Chi Lê, Hàn Quốc, Liên minh kinh tế Á-Âu).  Hiện tại, Việt Nam đã kết thúc đàm phán với Liên minh Châu Âu (EU) và đang triển khai đàm phán các 5 FTA khác (bao gồm cả việc đàm phán lại Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ hơn – CTPP).

Các hoạt động hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam đều thực hiện đúng sự chỉ đạo của Đảng, Chính phủ, bảo đảm lợi ích của đất nước trong ngắn hạn cũng như dài hạn;giúp cho chúng ta vừa mở thêm được thị trường, thu hút đầu tư, vừa khẳng định được vị thế của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới.

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, nền kinh tế Việt Nam cũng còn phải đối mặt với nhiều thách thức, trong đó những thách thức căn bản là:

Thứ nhất, thể chế kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tuy đã có những chuyển biến tích cực nhưng vẫn còn nhiều bất cập, chưa đồng bộ, có mặt còn  lúng túng, chưa cụ thểvà tạo lên những cản trở làm kém đi các hiệu quả trong quá trình hội nhập kinh tế.

Thứ hai, sức cạnh tranh của nền kinh tế, doanh nghiệp và sản phẩm của ta mặc dù đã được cải thiện nhưng vẫn còn thấp so với nhiều nước, kể cả các nước trong khu vực. Hội nhập kinh tế quốc tế đã làm bộc lộ rõ những yếu kém cơ bản của nền kinh tế nước ta. Nhất làcơ cấu kinh tế và chất lượng tăng trưởng, trình độ khoa học công nghệ, kết cấu hạ tầng, bảo vệ và cải thiện môi trường vẫn chưa được cải thiện về căn bản.

Thứ ba, hiệu quả đầu tư của toàn xã hội, đầu tư công, đầu tư của nước ngoài hiệu quả chưa cao như mong muốn. Tăng trưởng của ta thời gian qua phần nhiều dựa vào các yếu tố vốn, lao động rẻ, xuất khẩu sản phẩm thô và sơ chế, mà thiếu sự đóng góp đáng kể của việc gia tăng năng suất lao động hay hàm lượng tri thức.

Thứ tư, nguồn nhân lực chưa đáp ứng kịp nhu cầu, nhất là năng lực quản lý nhà nước, quản trị công, quản trị doanh nghiệp và nguồn nhân lực chất lượng cao để đáp ứng yêu cầu cho hội nhập kinh tế quốc tế, phát triển nhanh và bền vững. Tổ chức thực hiện, tổ chức chỉ đạo thực hiện, phối hợp của chúng ta cũng chưa tốt, hiệu quả chưa cao.

Thứ năm, sự phối hợp giữa các tổ chức, cơ quan trong triển khai công tác hội nhập kinh tế quốc tế tuy đã được thực hiện tốt hơn nhưng vẫn còn những mảng cần phải tiếp tục được hoàn thiện, đặc biệt là phối hợp giữa trung ương và địa phương.

Chúng ta cần nghiêm túc nhìn nhận những thách thức này để có giải pháp khắc phục tốt hơn trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế trong thời gian tới.    

Để hội nhập kinh tế quốc tế gắn kết hơn nữa với quá trình đổi mới kinh tế - xã hội trong nước như chỉ đạo của Đảng và Chính phủ, chúng ta cần tiếp tục tập trung vào các biện pháp tăng cường nội lực của nền kinh tế, cụ thể là:

Thứ nhất là, hoàn thiện pháp luật và thể chế kinh tế, nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế:Tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, nhất là các thủ tục liên quan đến đầu tư, xuất nhập khẩu, thuế...; công bố công khai, minh bạch mọi chính sách, cơ chế quản lý, quy trình tác nghiệp, người chịu trách nhiệm và thời hạn giải quyết công việc của các cơ quan nhà nước, các đơn vị cung cấp dịch vụ công để các doanh nghiệp và người dân biết, thực hiện và giám sát việc thực hiện.

Thứ hai là,nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm: Triển khai hiệu quả Đề án tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng; tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi để thu hút đầu tư nước ngoài, thực hiện tốt chính sách ưu đãi đầu tư, nâng cao hiệu quả vốn đầu tư và quản lý nợ công; đẩy mạnh việc đổi mới, sắp xếp, phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp Nhà nước; chú trọng phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua các chính sách hỗ trợ về vốn, công nghệ và tiếp cận thị trường.

Thứ ba là, phát triển đồng bộ các yếu tố của nền kinh tế thị trường: Tiếp tục rà soát các yếu tố đang cản trở sự hình thành đồng bộ các yếu tố của kinh tế thị trường, đặc biệt trong các lĩnh vực doanh nghiệp nhà nước còn độc quyền, chi phối thị trường; các lĩnh vực, đối tượng đang có sự hỗ trợ mang tính phân biệt đối xử.

Thứ tư là, đào tạo, phát triển và sử dụng nguồn nhân lực: Ban hành và thực hiện chính sách nâng cao chất lượng giáo dục, chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế; đẩy mạnh đào tạo và duy trì nguồn nhân lực cho hội nhập kinh tế quốc tế, có trình độ, có kinh nghiệm và đảm bảo tính kế thừa; thực hiện hiệu quả chính sách thu hút và sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ phát triển đất nước.

Thứ năm là, tăng cường công tác nghiên cứu, dự báo, đánh giá: Tăng cường năng lực nghiên cứu, dự báo và cung cấp thông tin cho các cơ quan Chính phủ và doanh nghiệp; nâng cao tính khoa học và độ tin cậy trong việc nghiên cứu, phân tích, nhận định về tình hình kinh tế thế giới và trong nước; dự báo được những biến động và tác động của kinh tế thế giới đối với Việt Nam để làm căn cứ cho việc hoạch định chính sách kinh tế trong các lĩnh vực nhạy cảm như ngân hàng, tài chính, bất động sản…; tiếp tục nghiên cứu, dự báo, đánh giá về tác động của việc thực hiện các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế đối với các lĩnh vực kinh tế - xã hội ở Việt Nam làm cơ sở thực hiện những bước đổi mới, phát triển tiếp theo.

Thứ sáu là, củng cố, tăng cường cơ chế phối hợp, giám sát triển khai công tác hội nhập kinh tế quốc tế: Tăng cường sự phối hợp liên ngành, liên vùng trong việc triển khai các hoạt động hội nhập kinh tế quốc tế; tăng cường sự tham gia và phối hợp giữa các Bộ, ngành và địa phương trong việc hoạch định chính sách về kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế, đảm bảo được sự nhất quán, cân bằng được lợi ích tổng thể về kinh tế - chính trị, phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng và Chính phủ; nâng cao năng lực của các cơ quan đầu mối về hội nhập kinh tế quốc tế tại các Bộ, ngành và địa phương để đảm bảo phát huy vai trò điều phối việc triển khai, theo dõi, đánh giá tình hình hội nhập kinh tế quốc tế.

Thứ bảy là, đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền: Tiếp tục tuyên truyền về quan điểm chỉ đạo và chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Chính phủ về phát triển kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế, phổ biến các cam kết, trách nhiệm, nghĩa vụ quyền lợi của Việt Nam khi tham gia vào các tổ chức kinh tế khu vực và thế giới; xây dựng cơ chế phối hợp, cung cấp thông tin về hội nhập kinh tế quốc tế giữa các Bộ, ngành và địa phư­ơng, giữa cơ quan quản lý Nhà nước và doanh nghiệp, bảo đảm việc chia sẻ thông tin giữa các Bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp, tạo điều kiện cho doanh nghiệp và người dân dễ tiếp cận và nắm bắt kịp thời các thông tin về tình hình hội nhập trong nước và quốc tế./.

Quỳnh Anh, Văn phòng BCĐLNKT