TÁC ĐỘNG CỦA HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ ĐẾN LĨNH VỰC LAO ĐỘNG, VIỆC LÀM

28/12/2017 | 00:00:00

Thực hiện chương trình Đổi mới từ năm 1986 và chính thức mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế từ năm 1988 , Việt Nam đã đạt được nhiều thành công cả trong hoàn thiện môi trường thể chế cũng như kết quả phát triển kinh tế-xã hội, nhất làvề thương mại và đầu tư .Sau 30 năm hội nhập, hệ thống pháp lý của Việt Nam đã nhanh chóng được hình thànhtheo hướng nội luật hóa các công ước, điều ước quốc tế để từng bước phù hợp với các qui định và thông lệ quốc tế, trong đó có lĩnh vực lao động, việc làm

Năm 1994, Bộ Luật Lao động đầu tiên của Việt Nam được ban hành; đến nay, Bộ luật này đã qua 4 lần sửa đổi, bổ sung vào các năm 2002, 2006, 2007 và 2012. Trên cơ sở Bộ luật Lao động, một loạt các luật chuyên ngành cũng được xây dựng như Luật công đoàn, Luật dạy nghề (nay là Luật giáo dục nghề nghiệp), Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, Luật Việc làm, Luật bảo hiểm xã hội, Luật an toàn vệ sinh lao động. Đến nay, Việt Nam đã phê chuẩn 21/189 công ước của Tổ chức lao động Quốc tế (ILO), trong đó có 5/8 công ước cơ bản.

Hội nhập kinh tế quốc tế không chỉ đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế màcòn là kênh quan trọng góp phần tạo việc làm và nâng cao năng suất lao động. Thương mại phát triển và lượng vốn FDI vào Việt Nam gia tăng đã tạotiền đề để mở rộng qui mô kinh tế và gia tăng cơ hội để các lực lượng kinh tế tiếp cận,ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất, kinh doanh. Từ đó, thúc đẩy nhanh hơn quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động,việc làm theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tỷ trọng lao động làm việc trong khu vực nông-lâm nghiệp và thủy sản đã giảm từ 62,2% năm 2000 xuống còn 41,9% vào năm 2016; ngược lại, tỷ trọng lao động làm việc trong công nghiệp-xây dựng và dịch vụ từ chiếm 13,0% và 24,8% năm 2000 đã tăng lên 24,7% và 33,4% tương ứng vào năm 2016[1]. Đặc biệt, khu vực kinh tế chính thức ngày càng lớn mạnh với số lao động làm công hưởng lương tăng nhanh trong những năm gần đây, chiếm42,1% tổng số lao động có việc làm năm 2016[2] (con số này chỉ là 27,6% vào năm 2006);riêng giai đoạn 2011-2016, số lao động làm công hưởng lương tăng mỗi năm gần 872 nghìn người, tương đương với số việc làm tăng thêm của nền kinh tế trong cùng giai đoạn.

Hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo môi trường thuận lợi hơn cho kinh tế tư nhân và FDI đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh. Kinh tế tư nhân và FDI đang dần thay thế vai trò của kinh tếnhà nước trong tạo việc làm cho người lao động[3]. Năm 2016, khối doanh nghiệp FDI tạo việc làm cho 2,37 triệu lao động, chiếm 4,4% tổng việc làm của nền kinh tế. Tốc độ tăng trưởng việc làm đạt 11,5%/năm trong giai đoạn 2006-2016. Khốidoanh nghiệp tư nhân tạo việc làm cho hơn 6 triệu lao động, chiếm 11,9% tổng việc làm của nền kinh tế năm 2016. Tốc độ tăng việc làm ở khối doanh nghiệp tư nhân cũng cao, đạt bình quân 9,02%/năm trong giai đoạn 2006 -2016[4].

Kết quả 30 năm hội nhập kinh tế quốc tế cho thấy ngành công nghiệp chế biến chế tạo đang ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế và tạo việc làm, đặc biệt là ngành công nghiệp điện tử trong những năm gần đây. Việt Nam hiện đứng vị trí thứ 12 trên thế giới và đứng thứ 3 trong khối ASEAN trong xuất khẩu hàng điện tử. Không chỉ là một trung tâm sản xuất hàng điện tử, Việt Nam hiện là nhà xuất khẩu điện thoại thông minh lớn thứ hai trên thế giới, chỉ sau Trung Quốc. Kết quả là ngành công nghiệp điện tử đã tạo được hàng trăm nghìn việc làm cho người lao động. Số lao động làm việc trong ngành công nghiệp điện tử đã tăng từ 291,7 nghìn người năm 2010 lên trên 584,4 nghìn người vào năm 2016, tăng gấp đôi qui mô lao động trong vòng 6 năm.

Mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo cơ hội cho việc di chuyển lao động quốc tế (cả lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài và lao động là người nước ngoài vào làm việc ở Việt Nam). Giai đoạn 2006-2016, số lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, bình quân mỗi năm đạt 87,5 nghìn người, tương đương tăng 4,23%/năm. Hai năm vừa qua, số lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài đạt hơn 100 nghìn người/năm, trong đó năm 2016 đạt 126 nghìn người, tăng 8,9% so với năm 2015. Đến nay, Việt Nam có khoảng 500 ngàn lao động đang làm việc tại hơn 40 nước và vùng lãnh thổ với hơn 30 nhóm ngành nghề, tập trung chủ yếu ở các nước và vùng lãnh thổ như Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia vàkhu vực Trung Đông; thị trường ở Bắc và Đông Âu cũng có dấu hiệu mở rộng cơ hội cho lao động Việt Nam. Song hành với gia tăng số lao động đi làm việc ở nước ngoài, chất lượng lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài cũng tăng lên do yêu cầu ngày càng cao của thị trường lao động ngoài nước. Tỷ lệ lao động đi làm việc ở nước ngoài đã qua đào tạo hiện chiếm trên 30% (năm 2015, tỷ lệ này chỉ là 15%).

Lao động là người nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam cũng tăng nhanh,góp phần bổ sung lực lượng lao động quản lý và lao độngcó trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, đáp ứng nhu cầuphát triển kinh tế. Số lao động là người nước ngoài vào làm việc ở Việt Nam tăng từ 12,6 nghìn người năm 2005 lên 83,6 nghìn người năm 2015, bình quân tăng 18%/năm trong giai đoạn này.

Số liệu thống kê cũng ghi nhận những tác động tích cực của hội nhập kinh tế quốc tế đến năng suất lao động thông qua việc ứng dụng công nghệ mới và thúc đẩy nhanh hơn quá trình dịch chuyển cơ cấu lao động từ khu vực có năng suất thấp (nông-lâm nghiệp và thủy sản) sang khu vực có năng suất cao hơn (công nghiệp-xây dựng và dịch vụ). Giai đoạn 2006-2016, năng suất lao động khu vực công nghiệp-xây dựng và khu vực dịch vụ luôn cao bình quân gấp 5 và 4 lần tương ứng so với năng suất lao động trong khu vực nông-lâm nghiệp và thủy sản. Kết quả là năng suất lao động Việt Nam (tính theo theo giá sức mua tương đương PPP năm 2011) đạt mức tăng bình quân 4,72%/năm, cao thứ 3 trong khối ASEAN trong 10 năm qua[5].

Tuy vậy, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế cũng đặt ra thách thức đối với lĩnh vực lao động, việc làm của Việt Nam, thể hiện ở một số điểm chủ yếu sau:

(1)  Việc tuân thủ và thực thi các cam kết quốc tế về lao động mà Việt Nam đã phê chuẩn gặp nhiều thách thức, nhất là vấn đề liên quan đến lao động trẻ em, tổ chức đại diện cho người lao động ở cấp doanh nghiệp, tiền lương tối thiểu, bảo hiểm hiểm xã hội.

(2)    Chất lượng lao động thấp trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắtkhông chỉ về chất lượng sản phẩm mà cả về việc làm do sự di chuyển lao động giữa các quốc gia ngày càng thông thoáng, đặc biệt là trong nội khối ASEAN. Hiện nay mới có 23% lực lượng lao động Việt Nam có bằng cấp, chứng chỉ trong khi năng lực của hệ thống giáo dục và đào tạo của việt Nam vẫn còn hạn chế trong đáp ứng được nhu cầu về chất lượng lao động của thị trường.

(3)    Chất lượng việc làm thấp thể hiện ở tỷ lệ lao động làm việc trong khu vực chính thức vẫn còn khiêm tốn. Điều này đặt Việt Nam trước thách thức trong thực hiện mục tiêu phát triển việc làm bền vững.

(4)    Tốc độ tăng năng suất lao động hàng năm cao nhưng giá trị năng suất lao động còn rất thấp so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Việt Nam thuộc nhóm 4 nước có năng suất lao động thấp nhất khu vực ASEAN.

(5)    Các dòng di cư trong nước và quốc tế ngày càng gia tăng, đặt ra thách thức cho công tác quản lý và hỗ trợ lao động di cư trong nước và quốc tế, gồm cả người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài và người nước ngoài vào làm việc ở Việt Nam.

(6)    Ứng dụng công nghệ số và tự động hóa vào sản xuất kinh doanh là xu hướng tất yếu để tăng năng suất và giảm chi phí lao động. Tuy vậy, thực tế này làmgia tăng áp lực đối với nhà nước về giải quyết việc làm cho người lao động, nhất là lao động không có hoặc có trình độ chuyên môn kỹ thuật thấp, lao động trung niên và lao động lớn tuổi trong bối cảnhViệt Nam đang trong thời kỳ cơ cấu dân số vàng với qui mô lực lượng lao động lớn và hệ thống an sinh xã hội chưa phát triển.

Để giảm thiểu và vượt qua những thách thức từ hội nhập kinh tế quốc tế, biến các thách thức thành cơ hội phát triển, thời gian tới cần tập trung thực hiện một số giải pháp sau:

(1)    Hoàn thiện thể chế, chính sách pháp luật lao động, việc làm

Chủ động nghiên cứu, ký kết, tham gia các điều ước, tiêu chuẩn và cam kết quốc tế về lao động, việc làm phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.Trước mắt tập trung nghiên cứu để tiến tới sớm phê chuẩn 3 công ước cơ bản còn lại trong 8 công ước cơ bản của ILO. Đồng thời, khẩn trương nội luật hóa các điều ước, tiêu chuẩn và cam kết quốc tế về lao động, việc làm mà Việt Nam đã phê chuẩn, cam kết tham gia; thúc đẩy việc đàm phán và ký kết các hiệp định, thỏa thuận song phương về lao động, việc làm, dạy nghề và bảo hiểm xã hội để tạo điều kiện thuận lợi cho việc di chuyển lao động và bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động.

Đẩy mạnh công tác cải cách thủ tục hành chính và ưu tiên xây dựng, hoàn thiện cơ sở dữ liệu về lao động, việc làmđể làm cơ sở cho việc thực hiện có hiệu quả công tác quản lý nhà nước về lao động, việc làm, gồm cả lao động trong nước, lao động là người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài và lao động là người nước ngoài vào làm việc ở Việt Nam.

(2)    Nâng cao chất lượng giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp, đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế

Xây dựng và hoàn thiện bộ tiêu chuẩn kiểm định chất lượng giáo viên, giảng viên; tăng cường sự tham gia của doanh nghiệp vào giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp, gồm cả việc đạo tạo theo đặt hàng và sự tham gia của doanh nghiệp vào xây dựng chương trình đào tạo và thực tập/tập sự của học viên, sinh viên.

Hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế, chuyển đổi sang hệ thống tiêu chuẩn năng lực phù hợp; tổ chức đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia cho người lao động. Triển khai các hoạt động hợp tác đánh giá và công nhận kỹ năng nghề giữa Việt Nam và các nước ASEAN.

Tăng cường công tác hướng nghiệp ở cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông cũng như ở cấp giáo dục sau phổ thông, góp phần nâng cao hiệu quả lựa chọn nghề nghiệp của học sinh sinh viên và hộ gia đình.

(3)    Phát triển hệ thống thông tin thị trường lao động nhằm giảm thiểu các thất bại thị trường và nâng cao hiệu quả quản trị thị trường lao động.

Tăng cường và nâng cao chất lượng dự báo nhu cầu lao động trong nước và quốc tế, đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong cung cấp thông tin thị trường lao động, phổ biến hệ thống chính sách và luật pháp về lao động.

Nâng cao năng lực của hệ thống trung tâm dịch vụ việc làm, đặc biệt chú trọng ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ để tăng cường sự liên kết, chia sẻ thông tin thị trường lao động, nâng cao hiệu quả cung ứng và tuyển dụng lao động cho các doanh nghiệp trong nước và quốc tế.

(4)    Tăng cường cách chính sách lao động, việc làm, giáo dục đào tạo và an sinh xã hội hỗ trợ các nhóm đối tượng dễ bị tổn thương, bị rủi ro trong quá trình phát triển.

Tăng cường các chính sách tín dụng và các chương trình giáo dục đào tạo chuyên biệt cho các nhóm đối tượng yếu thế (người khuyết tật, người dân tộc thiểu số ở vùng sâu vùng xa, lao động trung niên mất việc làm, v.v.) để họ có đủ năng lực và khả năng tiếp cận hệ thống giáo dục đào tạo; tiếp cận thị trường lao động.

Hoàn thiện hệ thống chính sách việc làm, tiền lương, bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thất nghiệp theo hướng có sự liên thông chính sách để hỗ trợ doanh nghiệp và người lao động có đủ nguồn lực và khả năng duy trì được việc làm trong bối cảnh cạnh tranh và tiến bộ khoa học công nghệ đang diễn ra nhanh chóng./.

Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội

[1] Tổng cục Thống kê (2017), Báo cáo Điều tra lao động việc làm năm 2016.

[2] Tổng cục Thống kê (2017), Báo cáo Điều tra lao động việc làm năm 2016.

[3] Năm 2016, lao động làm việc trong khu vực kinh tế nhà nước chiếm 9,8% tổng lao động có việc làm. Lao động việc làm vẫn chủ yếu là việc trong khu vực kinh tế cá thể, hộ sản xuất kinh doanh nhỏ lẻ.

[4] Tốc độ tăng bình quân lao động có việc làm của toàn nền kinh tế chỉ là 1,93%/năm trong giai đoạn 2006-2016.

[5] Trung tâm Phân tích và Dự báo/Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (2017).