Tăng cường hợp tác ASEAN trong khuôn khổ Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP)

08/06/2015 | 00:00:00

1. Khát quát chung về quá trình đàm phán RCEP

RCEP (Regional Comprehensive Economic Partnership) là cơ chế Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực, được thành hình với mục đích cạnh tranh với Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược Xuyên Thái Bình Dương (TPP) do Hoa Kỳ khởi xướng với sự tham dự của 12 quốc gia bên bờ Thái bình dương. Hiệp định RCEP này bao gồm 16 quốc gia trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương với nòng cốt là 10 quốc gia ASEAN cộng với Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, New Zealand và Australia (gọi tắt là ASEAN + 6).

RCEP chính thức khởi động đàm phán vào ngày 20/11/2012, và sẽ trở thành khối mậu dịch đại diện cho 1/3 kinh tế toàn cầu, có ảnh hưởng đến gần một nửa dân số thế giới. Các quốc gia trong khối RCEP sẽ cam kết tự do hóa gần hết 100% thương mại, thông qua hàng loạt các hiệp định thương mại tự do, tuy nhiên cũng sẽ có một số bảo vệ nhất định với những mặt hàng nhạy cảm, chẳng hạn như gạo.

Một thỏa thuận về RCEP giữa ASEAN và các đối tác ở châu Á-Thái Bình dương nếu đạt được sẽ tạo ra một thị trường hội nhập khu vực rộng lớn có dân số tới 3,4 tỷ người và tổng sản phẩm quốc nội 21.400 tỷ USD. Đây là khu vực năng động, có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, chiếm khoảng 47% dân số và 28% tổng thu nhập quốc nội (GDP) của thế giới. Đàm phán diễn ra trong các lĩnh vực thương mại hàng hóa (bao gồm các nội dung thuế quan, quy tắc xuất xứ, thủ tục hải quan và thuận lợi hóa thương mại, các biện pháp vệ sinh dịch tễ (SPS), tiêu chuẩn, quy chuẩn và thủ tục đánh giá sự phù hợp (TBT), v.v.), thương mại dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ, cạnh tranh, giải quyết tranh chấp và hợp tác kinh tế kỹ thuật.

Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực chính thức khởi động đàm phán cuối năm 2012, dự kiến sẽ kết thúc vào năm 2015. Khi thực thi, RCEP sẽ mở cửa hơn nữa thương mại hàng hóa và dịch vụ, bỏ dần những rào cản thương mại và tự do hóa các dịch vụ, mở rộng hơn nữa đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ASEAN và các đối tác thương mại bên ngoài. Một Hiệp định FTA giữa ASEAN với các đối tác trong khu vực sẽ giúp kết nối 05 FTA ASEAN+1 đã có (ASEAN-Trung Quốc, ASEAN-Hàn Quốc, ASEAN-Nhật Bản, ASEAN-Ấn Độ, ASEAN- Úc và Niu zi lân), tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp ở các nước thành viên dễ dàng khai thác lợi ích của Hiệp định này cũng như thúc đẩy sự liên kết trong các chuỗi sản xuất khu vực, thúc đẩy sự phát triển năng động của ASEAN.

Cho tới nay, ASEAN và các đối tác đã tổ chức 5 phiên đàm phán Hiệp định RCEP và hai phiên họp cấp bộ trưởng trong khuôn khổ Hội nghị Bộ trưởng Kinh tế ASEAN năm 2013 và 2014. Các bên đã thành lập 7 nhóm công tác, 4 tiểu ban và đã đưa ra các đề xuất, thảo luận quan điểm, cách tiếp cận của nhau trong các lĩnh vực đàm phán, đặc biệt là thương mại hàng hóa, dịch vụ và đầu tư.

Phù hợp với Tuyên bố chung của các nhà lãnh đạo RCEP, các cuộc đàm phán RCEP đặt ra mục tiêu đạt được một thỏa thuận hợp tác kinh tế hiện đại, toàn diện, chất lượng cao và cùng có lợi, thiết lập một môi trường thương mại và đầu tư mở để tạo điều kiện mở rộng thương mại và đầu tư trong khu vực, góp phần vào tăng trưởng và phát triển kinh tế toàn cầu; thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế công bằng, tăng cường hợp tác kinh tế, mở rộng và làm sâu sắc hơn hội nhập trong khu vực thông qua RCEP được xây dựng trên cơ sở các mối liên kết kinh tế hiện tại.

RCEP thừa nhận vai trò trung tâm của ASEAN trong cấu trúc kinh tế khu vực và lợi ích của các đối tác FTA của ASEAN trong hỗ trợ và đóng góp vào hội nhập kinh tế, phát triển kinh tế công bằng và tăng cường hợp tác kinh tế giữa các nước tham gia.
RCEP sẽ có sự tham gia sâu rộng hơn với những cải thiện đáng kể trong khi công nhận hoàn cảnh và tính đa dạng của các nước tham gia. RCEP sẽ bao gồm các quy định để tạo thuận lợi cho thương mại và đầu tư, nâng cao tính minh bạch trong quan hệ thương mại và đầu tư giữa các nước tham gia, cũng như tạo điều kiện cho sự gắn kết của các nước tham gia trong chuỗi cung ứng toàn cầu và khu vực. Xét mức độ phát triển khác nhau của các nước tham gia, RCEP sẽ áp dụng các hình thức linh hoạt thích hợp, bao gồm đối xử đặc biệt và khác biệt, cộng với sự linh hoạt bổ sung cho các nước thành viên ASEAN kém phát triển.

Bên cạnh đó, khu vực này cũng sẽ từng bước mở cửa các lĩnh vực dịch vụ và đầu tư theo quy định của RCEP, do có sự không đồng đều về mức độ phát triển giữa các nền kinh tế. Vì vậy các thành viên RCEP cần tiếp tục liên kết để loại bỏ các rào cản để tập trung vào 3 lĩnh vực chủ chốt: thương mại, dịch vụ và đầu tư.

2. Tiềm năng hợp tác và cơ hội khi tham gia RCEP

Một RCEP thành công sẽ tiếp tục củng cố sự dịch chuyển cán cân kinh tế từ phương Tây sang Châu Á, RCEP ra đời sẽ nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế châu Á đồng thời giảm bớt sự phụ thuộc của khu vực Châu Á vào thị trường Châu Âu và Hoa Kỳ. RCEP sẽ trở thành một đối trọng đối với hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) hiện đang trong quá trình đàm phán giữa Hoa Kỳ và 10 quốc gia khác.

ASEAN lo ngại rằng TPP sẽ gây chia rẽ khối và lợi ích bị đặt sang bên lề nên cùng nhau đưa ra đề xuất đàm phán RCEP vào năm 2012. Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) - không chỉ là một sự sắp xếp kinh tế thúc đẩy lợi ích của các công ty và tạo việc làm cho người dân trên cả hai bờ Thái Bình Dương mà còn là một công cụ để làm giảm ảnh hưởng của Trung Quốc trong khu vực và lôi kéo Trung Quốc phải đồng ý với các luật lệ kinh tế của Mỹ. GDP bình quân đầu người của các nước TPP phát triển là hơn 30.000 USD. GDP bình quân đầu người của các nước RCEP thấp hơn, ở mức 5.800 USD. Ưu tiên của các nước đang phát triển trong khu vực là khuyến khích thương mại sản xuất, trong khi vẫn bảo vệ không gian chính sách riêng của mình còn mục đích của các nước TPP tiên tiến là mở rộng tiếp cận thị trường cho các lĩnh vực mà họ có lợi thế so sánh như dịch vụ và đầu tư. 

TPP và RCEP – cả hai hiệp định có quy mô gần tương đương, các nước thành viên TPP chiếm 32% GDP của thế giới và 26% thương mại toàn cầu trong khi các nước RCEP chiếm 24% GDP thế giới và 28% thương mại toàn cầu. Mỹ là động lực chính của TPP, trong đó đáng chú ý là TPP không có Trung Quốc và Nga, trong khi RCEP do ASEAN lãnh đạo và chịu nhiều ảnh hưởng của Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và không có Mỹ.

Các đặc tính của hiệp định RCEP do Trung Quốc và ASEAN dẫn dắt về cơ bản là khác với hiệp định TPP do Mỹ dẫn đầu. TPP được mô tả như một hiệp định cấp cao, có nghĩa là loại bỏ tất cả các loại thuế quan của các loại hàng hóa, không có ngoại lệ và một hiệp định toàn diện, có nghĩa là bao phủ một phạm vi rộng lớn, nhiều lĩnh vực bao gồm đầu tư, cạnh tranh và sở hữu trí tuệ. RCEP có một cách tiếp cận dần dần với mục tiêu khiêm tốn và phạm vi hạn chế, chủ yếu tập trung vào việc cắt giảm thuế quan. Trong khi TPP không có các quy định đặc biệt hoặc khác biệt cho các nước kém phát triển còn RCEP sẽ công nhận các đặc điểm riêng và hiện trạng khác nhau của các nước tham gia và có các quy định rất linh hoạt. 

Tuy nhiên, con đường đi tới nhất thể hóa kinh tế khu vực mà trọng điểm là đẩy mạnh việc xây dựng Khu vực Mậu dịch Tự do châu Á-Thái Bình Dương còn không ít chông gai. Các thành viên của APEC hiện nay rất nỗ lực trong phong trào toàn cầu hóa. Tuy nhiên, con số 40 Hiệp định thương mại tự do được ký kết trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương đã thể hiện khoảng cách trong APEC là rất lớn. Khoảng cách thứ nhất là về quy mô và trình độ phát triển. Một khó khăn nữa đối với APEC là nhận thức của các nước đối với Hiệp định Thương mại tự do còn có khoảng cách. Các Hiệp định Thương mại tự do mà có Trung Quốc tham gia là những hiệp định đơn giản về mặt nội dung, về quy mô cũng như mức độ tự do hóa. Nếu quy tắc xuất xứ được các nước thành viên thực thi một cách nghiêm chỉnh thì thương mại giữa Trung Quốc với các nước trong nhóm TPP sẽ có xu hướng suy giảm.

Trong khi những Hiệp định thương mại do Mỹ khởi xướng thường đặt ra yêu cầu cải cách cao và yêu cầu mở cửa rất rộng, không chỉ là thương mại tự do ở lĩnh vực hàng hóa mà còn trong lĩnh vực dịch vụ, bao hàm cả những nội dung kỹ thuật, thể chế như là bản quyền sở hữu trí tuệ, vấn đề môi trường, doanh nghiệp nhà nước, công đoàn, lao động. Với những khoảng cách về nhận thức, khoảng cách về kinh tế, rõ ràng có những rào cản trong quá trình nhất thể hóa kinh tế khu vực châu Á-Thái Bình Dương.

Các nước tham gia Hiệp định RCEP là các đối tác kinh tế lớn của Việt Nam, xét cả về giá trị và tỷ trọng thương mại. Theo số liệu năm 2013, thương mại với các nước Đông Á chiếm tới 58,3% tổng giá trị thương mại của Việt Nam. ASEAN là đối tác thương mại lớn thứ 2 của Việt Nam với giá trị thương mại hai chiều đạt 40,1 tỷ USD, Trung Quốc đứng ở vị trí thứ nhất với 50,21 tỷ USD, Hàn Quốc đứng thứ 5 với 27,33 tỷ USD, Nhật Bản đứng thứ 6 với 25,26 tỷ USD.

Những tiêu chuẩn cao của hiệp định TPP sẽ không khuyến khích sự tham gia của các nước đang phát triển, do đó RCEP trở thành một lựa chọn thay thế hấp dẫn, khi được cho là ít đòi hỏi các thay đổi kinh tế. Trong đàm phán TPP, nền kinh tế Việt Nam vẫn ở trình độ thấp và đang trong quá trình chuyển đổi nên luôn đề nghị phía Mỹ có sự linh hoạt cần thiết, cân bằng lợi ích, thu hẹp khoảng cách khác biệt. Thêm vào đó, vai trò trung tâm của ASEAN trong RCEP cũng khác hẳn so với TPP, trong đó tất cả các đối tác đều bình đẳng, mặc dù nhiều quốc gia vẫn đang thăm dò những chính sách mà Mỹ theo đuổi. RCEP cho phép các quốc gia khác tham gia sau khi hiệp định hình thành và không cấm các thành viên hiệp định gia nhập các nhóm thương mại tự do khác, chẳng hạn như Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) do Mỹ chủ xướng.

Quá trình thành lập Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) đã đạt được nhiều tiến bộ nhưng để tiến tới một khu vực thịnh vượng chung vẫn còn một chặng đường dài phía trước. Thời hạn ban đầu cho AEC là vào năm 2020, nhưng sau đó đã được rút ngắn lại vào đầu năm 2015 rồi lại bị đẩy lùi vào cuối năm 2015. Tuy nhiên, ngoài việc di chuyển thời điểm thành lập AEC, các nước ASEAN đã chuyển sang một chương trình nghị sự cho AEC sau năm 2015 với cơ hội và thách thức chia đều cho các nước thành viên phản ánh sự đồng thuận giữa các nước thành viên vì ASEAN còn nhiều vấn đề khác liên quan tới an ninh an toàn hàng hải, hàng không, biến đổi khi hậu, vùng chồng lấn biển đông, múi giờ chung ... Cộng đồng ASEAN hướng vào người dân và coi người dân là trung tâm, thực hiện cộng đồng tự cường, phát triển bền vững, có tiếng nói lớn ở các diễn đàn quốc tế, phồn vinh thành hiện thực để mọi người dân ASEAN từ công nhân, nông dân, người lao động bình thường tới các giáo sư, bác sĩ, bộ trưởng, các vị nguyên thủ quốc gia đều tự hào là công dân ASEAN. Việc giàm thuế xuống mức 0-5% và loại bỏ dần các rào cản phi thuế quan, thúc đẩy dòng di chuyển tự do lao động có tay nghề cao giữa các nước thành viên, thu hút đầu tư nước ngoài, tăng tính cạnh tranh và tạo thuận lợi hơn nữa cho người dân và doanh nghiệp là những bước cần thiết để hoàn thiện AEC.

Một ASEAN gắn kết và hội nhập về kinh tế sẽ là một viễn cảnh hấp dẫn đối với các nhà đầu tư, các tập đoàn đa quốc gia và họ sẽ đóng vai trò trung tâm trong quá trình tạo dựng sự thịnh vượng cho người dân trong khu vực. RCEP được chính thức coi là một hiệp định thương mại tự do, nội dung của hiệp định lại tính tới phương án tối thiểu của tự do hóa thương mại. Những điều khoản linh hoạt trong hiệp định đảm bảo không thành viên nào phải tuân thủ chính sách thương mại mà họ không mong muốn, hiệp định trở nên hấp dẫn đối với các nước kém phát triển cũng như thuận lợi hơn trong quá trình mở rộng thành viên. Các nền kinh tế phụ thuộc xuất khẩu ở khu vực Đông Nam Á được kỳ vọng sẽ có nhiều cơ hội hơn trong việc tiếp cận các thị trường lớn trong khu vực như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc.

Các nước tham gia Hiệp định RCEP là thị trường xuất khẩu quan trọng của Việt Nam với tổng giá trị xuất khẩu trên 58 tỷ USD năm 2013, tương đương 44% tổng kim ngạch xuất khẩu. Đây cũng là nguồn nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với giá trị 95,824 tỷ USD, chiếm 73% tổng kim ngạch nhập khẩu. Về quan hệ đầu tư, Đông Á là nguồn cung cấp chính đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại Việt Nam. Tính đến tháng 12 năm 2013, FDI của các nước Đông Á vào Việt Nam đạt 124 tỷ USD vốn đăng ký và 39,4 tỷ USD vốn thực hiện, chiếm lần lượt 54% và 50,1% tổng vốn đăng ký và thực hiện của Việt Nam.

Việc tham gia Hiệp định RCEP phù hợp với chủ trương tích cực, chủ động tham gia ASEAN, xây dựng Cộng đồng Kinh tế ASEAN của Việt Nam. Thúc đẩy hợp tác kinh tế với các đối tác là một trụ cột của Cộng đồng Kinh tế ASEAN và hiện nay đàm phán Hiệp định RCEP đang được coi là ưu tiên cao nhất của ASEAN trong trụ cột này. Bên cạnh đó, Hiệp định RCEP (ASEAN+ 6) phù hợp với quan điểm của Việt Nam về việc xây dựng một tiến trình hội nhập tại Đông Á mang tính mở, cân bằng, với sự tham gia của nhiều bên, trong đó ASEAN đóng vai trò trung tâm. Hiệp định RCEP sẽ hỗ trợ các nỗ lực hội nhập ASEAN cũng như giữa ASEAN và các đối tác, góp phần tạo môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển kinh tế. Mục tiêu quan trọng của Hiệp định RCEP là nhằm đồng bộ hóa các FTA hiện có giữa ASEAN với các nước đối tác nhằm giảm tối đa sự khác biệt về qui tắc thực thi các FTA, đồng thời xây dựng gói cam kết chung về tự do hóa bao gồm thương mại hàng hóa, dịch vụ, đầu tư và các vấn đề khác.

Hiệp định RCEP sẽ giúp Việt Nam đa dạng hóa nền kinh tế và mở rộng thị trường xuất khẩu thông qua mức thuế nhập khẩu thấp hơn ở các nước thành viên và thúc đẩy đầu tư trực tiếp của các nước đối tác vào Việt Nam. Việc thực hiện nghiêm túc các cam kết của Hiệp định RCEP sẽ góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực, thu hút khách du lịch trong khu vực và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh minh bạch, thuận lợi hóa thương mại, tăng cường năng lực cạnh tranh của hàng hóa và dịch vụ, thu hẹp khoảng cách phát triển và tận dụng các ưu đãi trong đối xử đặc biệt và khác biệt dành cho các nước tham gia có trình độ kém phát triển hơn.

 Tô Cẩn