Kiên Giang: Kết quả 01 năm thực hiện Nghị quyết số 49/NQ-CP để nền kinh tế phát triển bền vững khi Việt Nam là thành viên Tổ chức Thương mại thế giới.

09/09/2015 | 00:00:00

Sau 01 năm triển khai Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 49⁄NQ-CP của Chính phủ về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của WTO, tỉnh Kiên Giang đã đạt được một số kết quả như sau.

Hoàn thiện pháp luật và thể chế kinh tếỦy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang đã chỉ đạo các sở, ngành liên quan tiến hành rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp quy hiện hành, loại bỏ những quy định chồng chéo, không còn phù hợp, đề nghị các bộ, ngành liên quan sửa đổi, bổ sung, hoàn chỉnh hệ thống văn bản quy phạm đảm bảo đủ về số lượng, bảo đảm tính đồng bộ, nhất quán, ổn định, minh bạch, chuẩn theo các quy tắc, luật lệ quốc tế mà Việt Nam tham gia ký kết. Đồng thời tiến hành sáp nhập thu gọn đầu mối, chuyên môn hóa công tác quản lý dự án hoặc cổ phần hóa theo cơ chế đổi mới doanh nghiệp nhà nước, góp phần đẩy mạnh hiệu quả hoạt động trên từng lĩnh vực và đảm bảo yếu tố cạnh tranh lành mạnh của nền kinh tế thị trường. Kết quả kinh tế của tỉnh đã có những chuyển biến tích cực, kinh tế tăng trưởng cao và đạt mục tiêu của Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ đề ra; cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, nhiều chỉ tiêu chủ yếu như: Nông sản, thuỷ sản, xuất khẩu đạt khá so với kế hoạch và tăng cao so với cùng kỳ; kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được tăng cường đầu tư, môi trường kinh doanh được cải thiện.

Kiên Giang: Kết quả 01 năm thực hiện Nghị quyết số 49/NQ-CP để nền kinh tế phát triển bền vững khi Việt Nam là thành viên Tổ chức Thương mại thế giới.

Xuất khẩu gạo - Ảnh minh họa

Nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩmHoàn thiện môi trường thể chế, nâng cấp và xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế và xã hội, phát triển nguồn nhân lực, cải cách thủ tục hành chính nhằm mục tiêu phát triển bền vững và phù hợp với thông lệ quốc tế, góp phần thu hút đầu tư, thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh. Chỉ số năng lực cạnh tranh (PCI) của tỉnh năm 2014 xếp thứ 9/63 tỉnh và đứng thứ 3/13 tỉnh, thành vùng đồng bằng sông Cửu Long, nằm trong danh sách tốt so với cả nước. Thực hiện tốt các chương trình đào tạo nâng cao năng lực quản lý cho doanh nghiệp từ nguồn vốn Trung ương và địa phương thông qua các lớp bồi dưỡng, tập huấn về thương mại điện tử, tìm hiểu Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Đấu thầu..., cho các đối tượng là ban giám đốc, cán bộ chủ chốt trong các doanh nghiệp. Thực hiện Chương trình quốc gia “Nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa của doanh nghiệp Việt Nam đến năm 2020”, UBND tỉnh đã phê duyệt dự án nâng cao năng suất và chất lượng (NSCL) sản phẩm, hàng hoá của doanh nghiệp tỉnh Kiên Giang (giai đoạn 2011-2020). Qua thời gian thực hiện, đến nay tỉnh có 26 doanh nghiệp đăng ký tham gia; ngoài ra dự án đã hỗ trợ kinh phí cho 06 doanh nghiệp áp dụng công cụ cải tiến NSCL (23 công cụ), 03 doanh nghiệp áp dụng hệ thống quản lý chất lượng, 01 doanh nghiệp công bố hợp quy; 03 doanh nghiệp đạt giải thưởng chất lượng quốc gia. Hàng năm tổ chức tập huấn cho các doanh nghiệp về kiến thức NSCL, nhận diện và loại bỏ lãng phí trong sản xuất, quản trị doanh nghiệp…, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp.

Phát triển đồng bộ các yếu tố của kinh tế thị trường: Đến nay tỉnh Kiên Giang đã được Chính phủ xem xét phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội đến năm 2020; trong từng giai đoạn tỉnh đã chỉ đạo các sở, ngành và địa phương tiến hành rà soát, bổ sung các quy hoạch phù hợp với tình hình thực tế. Việc sắp xếp, đổi mới các doanh nghiệp nhà nước do tỉnh quản lý luôn gắn với chủ trương đổi mới cơ chế quản lý kinh tế và cơ chế đổi mới quản lý doanh nghiệp của Trung ương, tạo môi trường đầu tư kinh doanh bình đẳng, minh bạch, ổn định, thông thoáng cho tất cả các doanh nghiệp; qua đó giúp các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, phù hợp với tình hình hội nhập quốc tế. Đây là một kết quả đáng khích lệ, góp phần rất quan trọng vào việc duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh và tiêu thụ hàng hóa công, nông, thủy sản của địa phương. Ngành thuế Kiên Giang đã tổ chức triển khai hình thức kê khai thuế qua mạng, đến tháng 3/2015 đã có 4.977 doanh nghiệp thực hiện đạt 91% tổng số doanh nghiệp hiện có trên địa bàn tỉnh, giúp cho các doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí và thời gian trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế góp phần vào thành tích thực hiện cải cách hành chính.

Lĩnh vực ngân hàng: Kiểm soát thị trường tiền tệ, thị trường ngoại hối vận động phù hợp với thị trường chung cả nước và phát triển khá tốt. Đến tháng 02/2015, trên địa bàn tỉnh Kiên Giang có 52 tổ chức tín dụng (TCTD) hoạt động, với 165 cơ sở giao dịch; tổng nguồn vốn hoạt động đạt trên 44,5 nghìn tỷ đồng; huy động tại địa phương đạt trên 24 nghìn tỷ đồng; dư nợ đạt trên 34 nghìn tỷ đồng; chất lượng tín dụng kiểm soát trong phạm vi an toàn.

Kiên Giang: Kết quả 01 năm thực hiện Nghị quyết số 49/NQ-CP để nền kinh tế phát triển bền vững khi Việt Nam là thành viên Tổ chức Thương mại thế giới.

Chế biến thủy sản xuất khẩu - Ảnh minh họa
Hiện đại hoá nông nghiệp và phát triển nông thôn: Khuyến khích cho thuê mặt nước, bãi bồi ven biển, ven đảo để nuôi trồng thủy sản; hỗ trợ lãi suất cho nông dân vay vốn ngân hàng để xây dựng giao thông nông thôn. Tỉnh đã tăng cường đầu tư công cho phát triển nông thôn, ưu tiên nguồn vốn cho xây dựng kết cấu hạ tầng, hệ thống giao thông, điện, cấp thoát nước nông thôn; xây dựng các trung tâm thương mại, nâng cấp và xây mới chợ nông thôn, cụm tuyến dân cư vượt lũ, đê bao, trường học, trạm y tế, trạm cấp nước… Bên cạnh đó, để tăng cường tiềm lực cơ sở vật chất, trang thiết bị cho phòng thí nghiệm, trạm trại phục vụ nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ phục vụ nông nghiệp, tỉnh đã tiếp tục đầu tư xây dựng mô hình sản xuất các giống nấm, sản xuất rau theo VietGAP…, đầu tư nâng cấp, trang bị mới các trang thiết bị để nâng cao năng lực kiểm nghiệm và sản xuất giống thủy sản, giống lúa và các nhiệm vụ liên quan khác.

Bảo vệ tài nguyên, môi trường và phát triển bền vững, bảo đảm an sinh xã hội và an ninh quốc phòng: Tập trung công tác tuyên truyền, phổ biến Luật Bảo vệ môi trường; tăng cường công tác kiểm tra, khảo sát, đánh giá hiện trạng môi trường từ đó có biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm; chú trọng công tác bảo vệ rừng, bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học, quy hoạch và đưa các cụm công nghiệp, xử lý chất thải, nghĩa trang ra xa khu dân cư và đô thị. Đặc biệt đã hoàn thành việc xây dựng giá đất, kiểm kê quỹ đất của các tổ chức; hoàn thành lập dự án tổng thể xây dựng hệ thống hồ sơ địa chính và cơ sở dữ liệu quản lý đất đai; đã phê duyệt dự án quy hoạch tổng thể bảo vệ môi trường đến năm 2020. Thực hiện đầy đủ và kịp thời các chính sách đối với người có công, người cao tuổi, người nghèo, đối tượng bảo trợ xã hội… Ngành y tế đã triển khai các chương trình, dự án hợp tác với các đối tác trong và ngoài nước để hiện đại hóa hệ thống thiết bị ngành, khám và điều trị miễn phí cho các đối tượng theo quy định. Làm tốt công tác giáo dục kiến thức quốc phòng - an ninh, từ đó nhận thức trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và nhân dân về nhiệm vụ quốc phòng - an ninh được nâng lên; sự phối hợp hoạt động giữa công an, quân sự, biên phòng chặt chẽ hơn.

Đào tạo, phát triển và sử dụng nguồn nhân lực: Hiện nay số trí thức có trình độ chuyên môn cao là 1.147 người, chiếm 4% so với tổng số trí thức của tỉnh, trong đó đương nhiệm (không tính số đã về hưu) có 19 tiến sĩ, 685 thạc sĩ. Với số lượng, cơ cấu, chất lượng đội ngũ trí thức hiện nay cơ bản đáp ứng được yêu cầu trước mắt về phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

Công tác nghiên cứu, dự báo, đánh giá: Tiếp tục mở rộng mối quan hệ với các lãnh sự quán, đại sứ quán các nước tại Việt Nam để tiếp tục mở rộng quan hệ hợp tác với nhiều đối tác quốc tế khác; tranh thủ sự hỗ trợ, giúp đỡ đối với địa phương và công dân Việt Nam tại các nước; đồng thời phối hợp với các cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài thực hiện công tác nghiên cứu, dự báo, cập nhật thông tin về hội nhập kinh tế quốc tế. Trong năm 2014 tỉnh đã tiếp và làm việc với 15 đoàn công tác của đại sứ quán, lãnh sự quán các nước, các công ty, tập đoàn kinh tế đến làm việc, tìm hiểu cơ hội đầu tư, hợp tác trên các lĩnh vực.

Qua 01 năm triển khai thực hiện tình hình kinh tế tiếp tục ổn định và phát triển, tổng sản phẩm trên địa bàn (GDP) tỉnh năm sau cao hơn năm trước; cơ cấu kinh tế chuyển dịch từ nông nghiệp sang cơ cấu công nghiệp - xây dựng, thương mại - dịch vụ; đời sống của nhân dân từng bước được cải thiện, tình hình chính trị, quốc phòng - an ninh ổn định và giữ vững. Từ đó có thể khẳng định việc gia nhập WTO đã tạo cơ hội cho tỉnh Kiên Giang tiếp cận và mở rộng thị trường xuất khẩu qua các nước trên thế giới, đến nay đã mở rộng 43 thị trường tại 23 quốc gia và vùng lãnh thổ; từ đó đã thúc đẩy phát triển sản xuất hàng hoá, nâng cao chất lượng sản phẩm từng bước thích nghi được các rào cản kỹ thuật trong thương mại của các nước nhập khẩu.