CÔNG TÁC HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA THÀNH PHỐ CẦN THƠ GIAI ĐOẠN 2013-2017

28/12/2017 | 00:00:00

Thực hiện các chủ trương, chính sách lớn của Đảng qua các kỳ Đại hội từ Đại hội Đảng lần thứ IX đến Đại hội Đảng lần thứ XII về hội nhập quốc tế, với sự chỉ đạo kiên quyết của Đảng bộ thành phố Cần Thơ, công tác lãnh đạo, tham mưu, phối hợp quản lý hoạt động hội nhập quốc tế của thành phố trong thời gian qua đã đạt được những thành tựu nổi bật về kinh tế; chính trị, an ninh quốc phòng; văn hóa, xã hội, khoa học công nghệ, giáo dục và đào tạo; tạo được hình ảnh thành phố Cần Thơ năng động, thân thiện và hòa nhập trong cộng đồng quốc tế.

Các thành tựu về kinh tế của thành phố trong giai đoạn 2013-2016 và năm 2017 như sau:

(1) Tăng trưởng kinh tế GRDP giai đoạn 2013-2016 dương với mức tăng bình quân 7,25%. Năm 2017, GRDP (giá so sánh 2010) đạt 66.627,4 tỷ đồng, tăng 7,83% so với năm 2016, vượt 0,3% KH. Đời sống vật chất và tinh thần người dân TP. Cần Thơ không ngừng được cải thiện: GRDP bình quân đầu người tăng 50,4 triệu đồng/năm 2013 lên 65,3 triệu đồng/năm 2016, 2017 đạt 72,96 triệu đồng/năm (tăng 11,2% so với năm 2016); giải quyết việc làm cho hơn 268.500 lao động trong giai đoạn 2013-2016; tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 69% (100% KH) năm 2017.

(2) Cơ cấu kinh tế giai đoạn 2013-2016 chuyển dịch theo hướng tăng tỉ trọng khu vực thương mại dịch vụ - công nghiệp và nông nghiệp công nghệ cao. Chỉ số sản xuất công nghiệp năm 2013 tăng 7,36%, đến 2016 tăng 11,22% và 2017 tăng 7,25% so với 2016. Dự kiến đến cuối năm 2017, khu vực I chiếm tỉ trọng 8,74% (giảm 2,25 điểm % so với 2013); khu vực II 32,65% (tăng 1,19 điểm % so với 2013), khu vực III 58,61% (tăng 1,08 điểm % so với 2013).

(3) Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn giai đoạn 2013- 2016 đạt hơn 54.173 tỷ đồng; tổng thu ngân sách nhà nước (theo chỉ tiêu Trung ương giao) đạt hơn 31.795 tỷ đồng, tăng bình quân 7,7%/năm. Thu NSNN trên địa bàn năm 2017 đạt 12.809 tỷ đồng, vượt 1,3% dự toán HĐND thành phố giao; trong đó thu nội địa 9.870 tỷ đồng đạt 100% dự toán giao; thu thuế xuất nhập khẩu 1.535 tỷ đồng, vượt 15% theo dự toán giao, tăng 45,9% so với năm 2016.

(4) Hoạt động tài chính ngân hàng có sự phát triển vượt bậc trong công tác quản lý; kiểm tra, giám sát được tăng cường thực hiện nhằm đảm bảo hiệu quả tối đa trong lưu thông tiền tệ phục vụ cho hoạt động phát triển kinh tế- xã hội và hạn chế rủi ro tài chính. Tổng vốn huy động từ các tổ chức kinh tế và cá nhân trên địa bàn năm 2016 thực hiện 58.900 tỷ đồng, tăng 83,5% so năm 2013, nguồn vốn huy động tăng khá đã đáp ứng 97,2% tổng dư nợ cho vay; tổng dư nợ cho vay nền kinh tế ước đạt 60.600 tỷ đồng, tăng 44,3%; nợ xấu 1.700 tỷ đồng, chiếm 2,8% tổng dư nợ, chất lượng tín dụng trong phạm vi an toàn. Đến hết năm 2017, trên địa bàn có 48 tổ chức tín dụng với 240 điểm giao dịch ngân hàng; nguồn vốn huy động đạt 67.000 tỷ đồng, tăng 13,5% so với đầu năm, đáp ứng 97,81% tổng dư nợ cho vay; nợ xấu giảm còn 1.600 tỷ đồng, chiếm 2,35% tổng dư nợ cho vay.

(5) Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội không ngừng tăng trưởng. Giai đoạn 2013-2016, tổng vốn đầu tư toàn xã hội huy động trên địa bàn ước đạt 158.850 tỉ đồng, tăng bình quân 7,5%/năm; trong đó, đầu tư mới và cải tạo nâng cấp 33 chợ với tổng vốn đầu tư 137,11 tỷ đồng. Năm 2017, tổng vốn đầu tư trên địa bàn là 55.860 tỷ đồng, vượt 1,6% KH, tăng 24,5% so với năm 2016; tỷ lệ vốn đầu tư phát triển/GRDP đạt 60,1% (KH 59,7%); trong đó, thành phố có 77 dự án đầu tư nước ngoài, tổng vốn đăng ký của các dự án là 656,8 triệu USD, vốn thực hiện 422 triệu USD, chiếm 62,6% tổng vốn đăng ký, doanh thu ước đạt 450 triệu USD; kết cấu hạ tầng thương mại được đầu tư phát triển theo hướng hiện đại và hội nhập quốc tế; đến nay, thành phố đã có 18 siêu thị, trung tâm thương mại đang hoạt động có hiệu quả và 107 chợ truyền thống. Quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh logistics được tăng cường. Kết cấu hạ tầng vật chất kỹ thuật từ chỗ yếu kém, đến nay, nhiều dự án công trình trọng điểm được đầu tư và khai thác, tạo sức lan toả và kết nối như: cảng biển Cái Cui cùng khu hậu cần logistic, sân bay Cần Thơ, Trung tâm nhiệt điện Ô Môn 3.000MW, quốc lộ 1A, cầu Cần Thơ, quốc lộ 91B, tuyến giao thông Bốn Tổng - Một Ngàn, tuyến Thới Lai - Đông Bình… giao thông nông thôn từng bước xây dựng và nâng cấp đồng bộ. Dự kiến cả năm 2017 thực hiện vận chuyển hàng hóa là 10.483 ngàn tấn, vượt 44,9% KH, tăng 1,5% so với 2016; vận chuyển hành khách 20.978 ngàn lượt, vượt 67,5% KH, tăng 1,4%.

(6) Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tăng bình quân 13,6%/năm trong giai đoạn 2013-2016. Năm 2017, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ đạt 106.041 tỷ đồng, vượt 0,9% KH, tăng 10,9% so với 2016; xuất khẩu hàng hóa đạt 1.399 triệu USD, vượt 6% KH, tăng 16,3% so với 2016; dịch vụ thu ngoại tệ đạt 369,9 triệu USD, vượt 5,7% KH, tăng 5,67% so với 2016.

(7) Thành phố đã ban hành Kế hoạch số 110/KH-UBND ngày 21/7/2017, về thực hiện Chương trình số 21-Ctr/TU ngày 12/5/2017 của Thành ủy, thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 16/01/2017 của Bộ Chính trị về “Phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn”. Kết cấu hạ tầng du lịch được tập trung đầu tư phát triển; thực hiện đẩy mạnh công tác quảng bá, xúc tiến trong nước và nước ngoài, tổ chức các sự kiện làm điểm nhấn cho năm (Lễ hội bánh dân gian Nam Bộ). Năm 2013-2016, số lượt khách du lịch tăng bình quân 9,5%/năm, doanh thu tăng bình quân 18,7%/năm. Năm 2017, tổng lượt khách đến là 7,5 triệu lượt, vượt 35% KH, tăng 41% so với năm 2016; đón và phục vụ 1,9 triệu lượt khách lưu trú, vượt 2,7% KH, tăng 14% so với 2016, trong đó có 300.000 lượt khách quốc tế. Doanh thu dự kiến 2.800 tỷ đồng, vượt 40% KH, tăng 59% so với năm 2016. Thành phố hiện có 236 cơ sở lưu trú du lịch, 17 vườn du lịch sinh thái.

(8) Bộ mặt nông thôn có nhiều chuyển biến tích cực trong giai đoạn 2013-2016, đời sống người dân được nâng cao; tính đến cuối năm 2016, có 20/36 xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới, chiếm tỉ lệ 55,6%; năm 2017, công nhận thêm 6 xã đạt tiêu chí nông thôn mới (100% KH). Củng cố và phát triển các HTX, đến nay thành phố có 253 HTX với 10.551 thành viên, tổng số vốn điều lệ đăng ký 548,7 tỷ đồng. Tăng cường đầu tư cho hiện đại hóa nông nghiệp và phát triển nông thôn, xây dựng nông thôn mới. Tập trung phát triển nông nghiệp với các sản phẩm sạch, thân thiện với môi trường, nông nghiệp hữu cơ, có năng suất cao, có giá trị lớn và có khả năng xuất khẩu phù hợp với biến đổi khí hậu và môi trường sinh thái; diện tích sản xuất rau an toàn phù hợp với Quy trình VietGap là 10,22 ha; phát triển 26 mô hình vườn cây ăn trái kết hợp với du lịch sinh thái.

(9) Uy tín của thành phố đối với các tỉnh/thành phố khác trong nước và các địa phương nước ngoài tăng cao. Thành phố trở thành địa điểm tin cậy được lựa chọn tổ chức các sự kiện mang tầm quốc tế, cụ thể: tổ chức Hội thảo khởi động thực hiện Chương trình 100 thành phố có khả năng chống chịu; phối hợp thực hiện các hoạt động bên lề sự kiện APEC 2017; tổ chức Hội nghị phát triển bền vững vùng ĐBSCL, thích ứng với biến đổi khí hậu. Tính đến nay, thành phố đã có quan hệ đối ngoại với hơn 100 địa phương nước ngoài, quốc gia trên thế giới; có quan hệ xuất khẩu với gần 100 quốc gia và vùng lãnh thổ (khu vực châu Á chiếm 50,6%, châu Mỹ chiếm 19,2%, châu Âu chiếm 13%); lũy kế số Biên bản ghi nhớ và Thỏa thuận hợp tác đã ký với nước ngoài tính đến nay là 57.

Để đạt được kết quả như trên, thành phố đã thực hiện liên tục các giải pháp điều hành phát triển kinh tế thời kỳ hội nhập từ 2013 đến nay, một số các giải pháp nổi bật như sau:

(1) Thành ủy Cần Thơ đã ban hành Kế hoạch số 23-KH/TU ngày 13/02/2017, về thực hiện Nghị quyết 06-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII), thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị- xã hội trong bối cảnh nước ta tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới; Nghị quyết số 09-NQ/TU ngày 10/4/2017, về chủ động hội nhập quốc tế về kinh tế.

(2) Thành phố mở rộng hoạt động đối ngoại nhân dân, tăng cường công tác thông tin tuyên truyền thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, góp phần tăng cường sự hiểu biết và nâng cao vị thế quốc tế của thành phố, thu hút được sự quan tâm, ủng hộ, đồng thuận của nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp đối với công tác quản lý nhà nước và chính sách phát triển kinh tế- xã hội của thành phố.

(3) Đẩy mạnh công tác thông tin đối ngoại, quảng bá hình ảnh, nâng cao uy tín của Việt Nam và thành phố trên trường quốc tế. Tạo dựng và nâng cao mức độ tin cậy, minh bạch hóa chính sách; thực hiện nghiêm túc, nhất quán các cam kết quốc tế; mở rộng hợp tác hiệu quả giữa thành phố Cần Thơ với các tỉnh trong nước và địa phương các nước mà Việt Nam đã và đang tham gia các cam kết quốc tế, hiệp định thương mại tự do. Thực hiện phương châm: Đảm bảo lợi ích kinh tế của thành phố trong mối quan hệ cùng phát triển lợi ích kinh tế của các địa phương khác ở ĐBSCL và các địa phương kết nghĩa anh em trong nước.

(4) Chỉ đạo thực hiện liên tục các biện pháp bảo đảm ổn định tài chính và kiểm soát lạm phát. Đẩy mạnh và thực hiện giải ngân các nguồn vốn đầu tư công. Triển khai các chính sách cho vay ưu đãi của chính phủ. Theo dõi tình hình nợ xấu; tập trung giám sát công tác cơ cấu lại các quỹ tín dụng nhân dân trên địa bàn; thực hiện động bộ các giải pháp tiền tệ, tín dụng và hoạt động ngân hàng để nâng cao Chỉ số tiếp cận tín dụng; kiểm soát lãi suất huy động và cho vay của các ngân hàng thương mại trên địa bàn. Nghiên cứu các chính sách hỗ trợ vốn để hướng dẫn doanh nghiệp thực hiện hồ sơ.

(5) Ban hành Chương trình Hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ thành phố Cần Thơ giai đoạn 2016-2020; Chương trình Hỗ trợ Doanh nghiệp nhỏ và vừa đổi mới công nghệ, thiết bị giai đoạn 2017-2020; trong đó, sản xuất công nghiệp phát triển đúng định hướng nhờ thực hiện Chương trình “Đổi mới công nghệ giúp phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ 2013-2017”. Hoàn thiện Đề án Khu công nghệ cao Cần Thơ để trình Bộ Khoa học và Công nghệ thẩm định, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định thành lập. Xây dựng thương hiệu hàng hóa nông sản, qua đó nâng cao giá trị hàng hóa.

(6) Đẩy mạnh việc thực hiện cơ cấu lại nền kinh tế địa phương một cách đồng bộ, toàn diện, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tăng trưởng các ngành, lĩnh vực gắn với tăng chất lượng, hiệu quả, nâng cao năng suất. Ban hành và triển khai các giải pháp nhằm khai thác có hiệu quả các nguồn lực cho đầu tư phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, thu hút đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh[1]. Đẩy mạnh xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ, phát triển đô thị theo quy hoạch; tập trung nguồn lực xây dựng các công trình trọng điểm, thiết yếu. Phối hợp với các Bộ, ngành Trung ương và các tỉnh, thành trong vùng triển khai thực hiện các chương trình, dự án của vùng nằm trong các quy hoạch đã được phê duyệt, nhất là các dự án giao thông; tăng cường hoạt động hệ thống cảng biển; đề xuất mở các tuyến hàng không quốc tế đến Cần Thơ. Tiếp tục tranh thủ các mối quan hệ đối tác vận động tài trợ cho các dự án ưu tiên đầu tư, tập trung chủ yếu vào xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông, khu công nghiệp, du lịch, logistic, công nghiệp phụ trợ, công nghệ thông tin, các công trình chỉnh trang đô thị, ứng phó với biến đổi khí hậu và phòng chống thiên tai.

(7) Phát triển chuỗi liên kết sản xuất, chế biến, tiêu thụ nhằm khắc phục yếu điểm hiện nay là sản xuất phân tán nhỏ, manh mún, sản phẩm không đồng đều, khó khăn trong tiêu thụ. Hỗ trợ xây dựng mô hình HTX tiêu biểu, hướng dẫn các thủ tục thành lập, triển khai chính sách ưu tiên cho vay vốn, giúp các HTX dần ổn định đi vào hoạt động và mở rộng thị trường cung cấp sản phẩm.

(8) Thực hiện Đề án “Xây dựng con người Cần Thơ đáp ứng yêu cầu công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành phố Cần Thơ đến năm 2030”.

(9) Đẩy mạnh cải cách hành chính, trong đó chú trọng nâng cao nhiệm vụ phối hợp của các cơ quan chức năng trong giải quyết các vướng mắc, thủ tục đầu tư cho các doanh nghiệp; bảo đảm môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế.Ban hành kế hoạch hỗ trợ doanh nghiệp khởi sự trên địa bàn thành phố đến năm 2020[2] theo tinh thần Nghị quyết số 35/NQ-CP năm 2016 của Chính phủ. Trình UBND thành phố phê duyệt Kiến trúc Chính quyền điện tử thành phố Cần Thơ phiên bản 1.0. Ban hành Kế hoạch 20/KH-UBND ngày 16/2/2017 về ứng dụng CNTT trong hoạt động cơ quan nhà nước thành phố Cần Thơ 2017; Kế hoạch 78/KH-UBND ngày 17/5/2017 về tuyên truyền, hướng dẫn dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 năm 2017.

(10) Phối hợp với Thương vụ, Tham tán thương mại, các cơ quan trung ương, các cơ quan đại diện của nước ngoài tại Việt Nam để hỗ trợ cung cấp cho doanh nghiệp XNK thành phố thông tin thị trường, thủ tục pháp lý cho hoạt động XNK, thông tin tìm kiếm đối tác của các công ty nước ngoài; tăng cường thông tin, cảnh báo cho doanh nghiệp XNK về các rào cản phi thuế quan của chính phủ các nước; đẩy mạnh xúc tiến thương mại ở các thị trường truyền thống, tổ chức các sự kiện quảng bá và giới thiệu sản phẩm tới các thị trường mới. 

(11) Nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, chú trọng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; gắn đào tạo nghề gắn với nhu cầu sử dụng lao động của thành phố, các doanh nghiệp trong và ngoài nước. Tiếp tục triển khai hiệu quả Nghị quyết số 29-NQ/TW của Trung ương về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu của xã hội và hội nhập quốc tế.

(12) Thường xuyên theo dõi, nâng cao chất lượng công tác báo cáo, tham mưu của cán bộ, công chức viên chức thành phố; phối hợp chặt chẽ với các đoàn thể, tổ chức chính trị xã hội để thu thập các ý kiến phản hồi về công tác điều hành quản lý nhà nước của các cơ quan trên địa bàn thành phố, về các chính sách mới triển khai,... từ đó thành phố có các biện pháp điều chỉnh hoặc tham mưu kịp thời cấp trên nhằm khắc phục các nhược điểm trong cơ chế chính sách và trong chỉ đạo điều hành.

Trong thời gian tới, lãnh đạo thành phố Cần Thơ sẽ tiếp tục chỉ đạo thực hiện các giải pháp trọng tâm nhằm mục tiêu hội nhập kinh tế quốc tế và phát triển bền vững theo Kế hoạch số 93/KH-UBND ngày 14/6/2017:

(1) Đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức của quần chúng nhân dân;

(2) Hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách;

(3) Tiếp tục lồng ghép các nguyên tắc, nội dung phát triển bền vững trong các chiến lược, chính sách, quy hoạch, kế hoạch phát triển;

(4) Tăng cường nguồn lực tài chính đề thực hiện phát trin bền vững;

(5) Tăng cường năng lực quản lý của cán bộ, trình độ chuyên môn và kỹ năng giao tiếp, đối ngoại của công chức viên chức;

(6) Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu thực tiễn hội nhập;

(7) Tăng cường vai trò và tác động của khoa học và công nghệ, đy mạnh đổi mới công nghệ theo hướng ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất và chế biến sản phẩm xuất khẩu;

(8) Tăng cường hợp tác với các địa phương, mở rộng hợp tác quốc tế.

Để nâng cao sức cạnh tranh của các tỉnh/thành phố ĐBSCL, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế, thành phố Cần Thơ đề nghị:

(1) Chính phủ chỉ đạo nhanh chóng tập trung triển khai và hoàn thành các dự án, quy hoạch đầu tư kết cấu hạ tầng đồng bộ cho vùng ĐBSCL để nâng cao sức cạnh tranh, đáp ứng yêu cầu hội nhập.

(2) Ban chỉ đạo liên ngành hội nhập quốc tế về kinh tế quốc gia:

- Tiếp tục hỗ trợ tuyên truyền, hướng dẫn thực thi các FTA mới ký kết hoặc chuẩn bị có hiệu lực trong thời gian tới.

- Hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực cho địa phương thực hiện nhiệm vụ hội nhập quốc tế về kinh tế.

Phát huy truyền thống người dân Nam Bộ hào hiệp, lối sống chan hòa tình nghĩa, thủy chung, thành phố Cần Thơ sẽ tiếp tục phối hợp với các tỉnh, thành phố trong cả nước phấn đấu phát triển kinh tế ngày càng giàu mạnh, xã hội ngày càng văn minh, không ngừng xây dựng mới và củng cố quan hệ đối ngoại với nhiều địa phương nước ngoài trong hội nhập kinh tế quốc tế./.

Sở Công Thương Thành phố Cần Thơ


[1] Chương trình hành động số 02/CTr-UBND ngày 27/02/2017

[2] Kế hoạch số 41/KH-UBND ngày 17/3/2017