CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP,KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC TRONG TRIỂN KHAI CÔNG TÁC HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ, CÁC CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG CỦA CHÍNH PHỦ

28/12/2017 | 00:00:00

Đặc điểm, tình hình của Lạng Sơn trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, các chương trình hành động của Chính phủ

1.1. Đặc điểm, tình hình của tỉnh Lạng Sơn trong bối cảnh Hội nhập kinh tế quốc tế
Lạng Sơn là tỉnh miền núi thuộc Đông Bắc của Tổ quốc có đường biên giới dài trên 231 km tiếp giáp với Nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, có 2 cửa khẩu quốc tế, 1 cửa khẩu chính và các cửa khẩu phụ, lối mở. Lạng Sơn có vị trí địa kinh tế, địa chính trị khá đặc biệt trên tuyến Hành lang kinh tế Nam Ninh-Lạng Sơn-Hà Nội-Hải Phòng đồng thời là cầu nối, cửa ngõ không chỉ của Việt Nam mà cả các nước ASEAN với thị trường Quảng Tây và miền Nam Trung Quốc trong Khu vực mậu dịch tự do ASEAN-Trung Quốc (CAFTA), có hệ thống giao thông đường sắt và đường bộ rất thuận tiện nối liền với các trung tâm kinh tế lớn của Việt Nam, Lạng Sơn đã và đang trở thành cửa ngõ trung chuyển hàng hoá lớn của cả nước và các nước ASEAN sang thị trường Trung Quốc và ngược lại. Vì vậy, tỉnh Lạng Sơn đóng một vai trò quan trọng trong quá trình tham gia hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam.Trong những năm qua hoạt động giao lưu thương mại với Trung Quốc qua đường Lạng Sơn luôn đạt giá trị kim ngạch lớn so với việc qua các cửa khẩu các tỉnh thành trong cả nước, đặc biệt là qua đường bộ và đường sắt. Năm 2016, tổng kim ngạch XNK đạt gần 4 tỷ USD, năm 2017 mức độ giao lưu thương mại qua đường Lạng Sơn đạt gần 5 tỷ USD, dự kiến tiếp tục tăng trong các năm tiếp theo.
1.2. Những thuận lợi và khó khăn, cơ hội và thách thức

a) Thuận lợi:

- Xu thế hòa bình, hợp tác vẫn là xu thế chủ đạo của thế giới trong thời gian tới. Châu Á – Thái Bình Dương đang trở thành khu vực phát triển năng động và trở thành trung tâm kinh tế của thế giới và là hạt nhân của hội nhập quốc tế trong những năm tới. Ngày càng có nhiều cơ chế hợp tác trên nhiều cấp độ và lĩnh vực được thúc đẩy ở châu Á – Thái Bình Dương.

- Nhìn lại chặng đường sau 30 năm đổi mới vừa qua, cùng với đất nước, tỉnh Lạng Sơn đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, an ninh, quốc phòng được giữ vững, kinh tế phát triển, xã hội ổn định, cơ sở hạ tầng và đời sống của người dân từng bước được nâng cao, tạo nội lực cho việc triển khai hội nhập kinh tế quốc tế. 

 - Trong lãnh đạo, chỉ đạo công tác kinh tế đa phương của lãnh đạo tỉnh đã  đổi mới tư duy, đổi mới cách tiếp cận trong đánh giá tình hình, đề xuất chính sách và triển khai các hoạt động đa phương theo hướng “chủ động đóng góp, khởi xướng sáng kiến” để góp phần xử lý các vấn đề, thúc đẩy hợp tác quốc tế, phù hợp với xu thế đổi mới cách tiếp cận, cách làm, cách thức quản trị, điều hành trên tất cả các cấp độ quốc gia, khu vực và toàn cầu hiện nay.

- Công tác kinh tế đối ngoại, hội nhập kinh tế quốc tế của tỉnh trên một số lĩnh vực đã triển khai thành công bước đầu, củng cố quan hệ với các địa phương biên giới Trung Quốc, thiết lập quan hệ với các tổ chức quốc tế, các cơ quan đại diện ngoại giao nước ngoài tại Việt Nam, hội nhập kinh tế có bước chuyển biến, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được cải thiện, thu hút và triển khai vốn FDI, ODA, viện trợ phi chính phủ nước ngoài ngày càng hiệu quả, tạo tiền đề và kinh nghiệm cho quá trình triển khai hội nhập kinh tế quốc tế.

b) Khó khăn và thách thức:

- Do đặc thù là tỉnh miền núi biên giới, địa hình đồi núi bị chia cắt, hệ thống đường giao thông ở một số địa bàn vùng nông thôn tỉnh còn khó khăn, không thuận lợi đối với hoạt động lưu thông hàng hóa, phần nào hạn chế sự phát triển kinh tế - xã hội tỉnh nói chung và thương mại biên giới nói riêng;

- So với cả nước, kinh tế-xã hội của tỉnh còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là thiếu vốn đầu tư, hạn chế việc đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng thương mại cũng như hạn chế đầu tư công nghệ mới nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm. Thu nhập và mức sống của người dân còn thấp, đặc biệt tại khu vực nông thôn, miền núi. Sản xuất hàng hóa theo hướng thị trường của người dân còn chậm phát triển, nhiều nơi vẫn mang tính tự cung tự cấp. Khả năng huy động vốn nội bộ cho đầu tư phát triển còn thấp;

- Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp của tỉnh Lạng Sơn còn thấp: Tiềm lực của doanh nghiệp còn nhỏ, tính liên kết và thương hiệu yếu, trình độ hiểu biết, am hiểu luật lệ quy định kinh tế và văn hóa kinh doanh quốc tế còn hạn chế, chưa có chiến lược dài hạn và chưa đủ khả năng để khai thác được lợi thế của doanh nghiệp từ chính sách vĩ mô và mở cửa thị trường. Doanh nghiệp sản xuất gặp phải sự cạnh tranh của hàng hóa các nước ,đặc biệt là hàng hóa Trung quốc ngay trên sân nhà.

- Hệ thống các dịch vụ và hỗ trợ có nhiều nỗ lực, nhưng chưa theo kịp diễn biến hội nhập kinh tế: Hệ thống tài chính - ngân hàng phát triển, nhưng một số nội dung hoạt động chưa đáp ứng yêu cầu. Các hoạt động dịch vụ có tính chất hỗ trợ kinh doanh như dịch vụ tư vấn, dịch vụ khoa học kỹ thuật, dịch vụ logistics, ... chậm phát triển và chưa tạo được lợi thế cho các doanh nghiệp trong sản xuất kinh doanh và nâng cao chất lượng doanh nghiệp.

- Chưa tận dụng tốt các cơ hội do hội nhập kinh tế quốc tế đem lại: Các doanh nghiệp địa phương thường xuyên thiếu thông tin về thị trường thế giới, về luật pháp quốc tế, về môi trường kinh doanh ở nước ngoài. Các cơ chế của WTO chưa được am hiểu và vận dụng đầy đủ.

1.3. Các giải pháp và nội dung triển khai thực hiện

1.3.1 Các giải pháp:

- Tiếp tục tuyên truyền các văn bản về HNKTQT đến toàn thể công chức, viên chức, người lao động trong tỉnh nhằm nâng cao hơn nữa nhận thức của công chức, viên chức, người lao động về Hội nhập kinh tế quốc tế.

- Cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, trước hết tập trung vào nhiệm vụ trọng yếu như: đầu tư hoàn chỉnh kết cấu hạ tầng thiết yếu; quy hoạch mặt bằng cho các dự án sản xuất kinh doanh; cải cách thủ tục hành chính đơn giản, nhanh chóng, tiện lợi cho các nhà đầu tư; tập trung đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, khuyến khích thu hút lao động có chuyên môn cao, tay nghề giỏi từ các nơi khác về làm việc tại Khu kinh tế.

- Thực hiện xã hội hoá đầu tư, áp dụng các hình thức đầu tư BOT, BTO, BT, PPP để đẩy nhanh tiến độ đầu tư kết cấu hạ tầng về giao thông, cấp thoát nước, cấp điện, xử lý rác thải,... đồng thời với việc thực hiện tốt công tác giải phóng mặt bằng, xây dựng các khu tái định cư, khu nhà ở xã hội, giải quyết công ăn việc làm, đào tạo nghề, bảo đảm ổn định cuộc sống cho những người dân trong khu vực.

- Tổ chức các cuộc Hội nghị xúc tiến đầu tư tại tỉnh hoặc tại các thành phố lớn để quảng bá, kêu gọi đầu tư; đàm phán, tiếp xúc với các nhà đầu tư. Phối hợp chặt chẽ với các tổ chức làm công tác xúc tiến đầu tư trong và ngoài nước, các Đại sứ quán và Lãnh sự quán của Việt Nam ở nước ngoài và của nước ngoài tại Việt Nam, qua cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài...

- Tiếp tục rà soát, điều chỉnh  các quy hoạch ngành, quy hoạch một số sản phẩm chủ lực, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết các cụm công nghiệp, khu kinh tế cửa khẩu, khu đô thị mới, khu du lịch,  cho đồng bộ, phù hợp với yêu cầu tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Công bố công khai quỹ đất cho thuê, các quy hoạch chi tiết và các danh mục dự án ưu tiên, khuyến khích đầu tư.

- Ưu tiên đầu tư xây dựng đồng bộ hệ thống hạ tầng kỹ thuật, tạo mặt bằng sạch cho các dự án tại các vùng kinh tế trọng điểm, Khu trung chuyển hàng hóa và một số cụm công nghiệp.

- Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện 03 Chương trình của UBND tỉnh về phát triển Khu kinh tế cửa khẩu, phát triển kết cấu hạ tầng và tái cơ cấu ngành nông nghiệp nông thôn.

1.3.2. Các nội dung triển khai:

- Công tác chỉ đạo điều hành: Để triển khai có hiệu quả công tác Hội nhập kinh tế quốc tế và các chương trình hành động của Chính phủ trên địa bàn phù hợp với tình hình thực tế và đáp ứng được xu thế mới trong thương mại quốc tế, UBND tỉnh Lạng Sơn đã ban hành các chương trình, kế hoạch để thực hiện, đồng thời tập trung chỉ đạo, tăng cường kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện Chương trình, kế hoạch đề ra. Bố trí đầy đủ kinh phí để thực hiện chương trình, kế hoạch hội nhập kinh tế quốc tế của các sở, ban, ngành. Thực hiện tốt chế độ báo cáo định kỳ,  kiến nghị, vướng mắc trên địa bàn về vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế để báo cáo UBND tỉnh để tiếp tục có những bổ sung, điều chỉnh về cơ chế chính sách do tỉnh ban hành và đề xuất Ban chỉ đạo liên ngành Hội nhập quốc tế về kinh tế trung ương. Công tác thành lập và kiện toàn Ban chỉ đạo Hội nhập kinh tế quốc tế của tỉnh luôn được thực hiện kịp thời.

- Công tác tuyên truyền: Đã tổ chức tốt công tác thông tin tuyên truyền, phổ biến các quan điểm, chủ trương, chính sách lớn của Đảng, Nhà nước  thực hiện Chương trình hành động của Chính phủ về hội nhập kinh tế quốc tế (HNKTQT), phổ biến các cam kết, trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền lợi của Việt Nam khi tham gia vào các tổ chức kinh tế khu vực và thế giới; cập nhật các chương trình, sự kiện, hoạt động HNKTQT có sự tham gia của Việt Nam, đặc biệt chú trọng một số chủ trương mang tính mới và lớn của Trung ương, của tỉnh thông qua nhiều hình thức như: Hội thảo, hội nghị, ban hành các văn bản, thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như Đài phát thanh, truyền hình, Báo Lạng Sơn. Đồng thời tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, công chức, viên chức nâng cao tinh thần cảnh giác với âm mưu của các thế lực thù địch, không để bị lợi dụng, lôi kéo, mua chuộc bởi các đối tượng xấu.

2. Kết quả công tác hội nhập kinh tế quốc tế, các chương trình hành động của Chính ph

2.1. Hoạt động đối ngoại và hoạt động kinh tế đối ngoại:

Đẩy mạnh thực hiện các chương trình hợp tác với Khu tự trị dân tộc Choang, Quảng Tây và một số tỉnh phía Nam, Trung Quốc trên các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội theo các cam kết của chính phủ và các thoả thuận, ghi nhớ đã được ký kết giữa lãnh đạo và các ngành của hai bên, trong đó tích cực đẩy mạnh quan hệ, hợp tác toàn diện với Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây, Trung Quốc, coi đây là đối tác chiến lược trong phát triển kinh tế của tỉnh; tích cực tham gia, phối hợp với các tỉnh, khu nằm trong khu vực hợp tác “Hai hành lang, một vành đai kinh tế”, hoạt động thường niên của Ủy ban công tác liên hợp giữa các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hà Giang (Việt Nam) và Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây (Trung Quốc). Bên cạnh việc tiếp tục củng cố, tăng cường quan hệ hữu nghị, hợp tác với Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây - Trung Quốc, tỉnh Lạng Sơn đã bước đầu chủ động, tích cực triển khai nhiều hoạt động đối ngoại nhằm mở rộng thiết lập và phát triển quan hệ với các đối tác chiến lược khác trong khu vực và các nước phát triển như Nhật Bản, Hàn Quốc, Pháp, Hoa Kỳ, một số nước EU và các nước trong khối ASEAN. Đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền đối ngoại, quảng bá hình ảnh, xúc tiến đầu tư phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội… Tiếp tục cụ thể hóa và tích cực triển khai những chủ trương của Đảng và Nhà nước đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài theo tinh thần Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 26/3/2004 của Bộ chính trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài.

2.2. Nâng cao năng lực cạnh tranh của khu vực doanh nghiệp và các sản phẩm chủ lực của tỉnh

a) Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: Tỉnh đã triển khai nhiều chương trình hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh, tập trung phát triển thương hiệu, đào tạo nhân lực và các hoạt động xúc tiến đầu tư, thương mại, du lịch… nhằm hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng thị trường; hỗ trợ kinh phí để giúp doanh nghiệp thực hiện quản lý và phát triển bảo vệ xây dựng thương hiệu đối với sản phẩm có thế mạnh của tỉnh.

Tiếp tục tập trung nâng cao năng lực cạnh tranh của địa phương và doanh nghiệp thông qua việc nâng cao chỉ số cạnh tranh của địa phương PCI. Tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế tư nhân, đồng thời đẩy mạnh thu hút các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào các lĩnh vực mà tỉnh khuyến khích đầu tư, dự án sử dụng công nghệ tiên tiến, ít tác động xấu đến môi trường.

Tỉnh Lạng Sơn đã tổ chức các khóa đào tạo, lớp tập huấn liên quan đến HNKTQT, giúp cho các doanh nghiệp nắm được những kiến thức tổng quan về một số vấn đề của quản trị doanh nghiệp, cập nhật và bổ sung kiến thức về phương pháp tiếp cận và kinh nghiệm trong khởi sự kinh doanh và lập chiến lược sản xuất, kinh doanh phù hợp với kinh tế thị trường và HNKTQT hiện nay.

Xây dựng và phát triển quỹ đầu tư phát triển của tỉnh, quỹ phát triển khoa học công nghệ để tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp thực hiện đổi mới công nghệ nâng cao năng lực cạnh tranh. Rà soát, bổ sung, hoàn thiện các cơ chế chính sách đã có và ban hành kịp thời các chính sách nhằm khuyến khích phát triển doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh có thế mạnh của tỉnh.

b) Về năng lực cạnh tranh của sản phẩm chủ lực: Chỉ đạo đầu tư phát triển sản xuất theo chiều sâu, đẩy mạnh việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, thực hiện tốt công tác dự tính, dự báo sâu bệnh hại cây trồng, thâm canh tăng năng suất và chất lượng các loại sản phẩm. Tuyên truyền, vận động nhân dân phát triển sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, các vùng nông sản hàng hoá từng bước được hình thành và phát triển, đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng. Bên cạnh đó quan tâm triển khai thực hiện công tác xúc tiến thương mại nông nghiệp thông tin thị trường để đáp ứng yêu cầu định hướng đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp và nông dân trên địa bàn; tham gia các Hội chợ triển lãm nông nghiệp trong nước và quốc tế để giới thiệu quảng bá tiếp cận thị trường tiêu thụ  nông lâm sản trong và ngoài nước[1].

Các doanh nghiệp trong tỉnh đã tranh thủ công nghệ hiện đại của nước ngoài dưới các hình thức: Liên doanh, hợp đồng hợp tác kinh doanh để sản xuất, đem lại sản phẩm có chất lượng cao. Có nhiều doanh nghiệp đã chủ động xây dựng phương án hội nhập, đầu tư đổi mới công nghệ, áp dụng tiến bộ kỹ thuật mới, tăng cường công tác tiếp thị mở rộng thị trường, tìm đầu ra cho sản phẩm, ổn định sản xuất kinh doanh. Đặc biệt một số doanh nghiệp đã phục hồi và có phát triển[2].

Bên cạnh đó việc phát triển hợp tác, liên kết sản xuất gắn với chế biến, tiêu thụ nông sản đang được áp dụng khá hiệu quả, các hình thức liên kết trong sản xuất nông nghiệp và tiêu thụ sản phẩm đã dần phát triển phù hợp theo điều kiện sản xuất từng huyện, xã; một số mô hình liên kết trong thời gian qua phát huy hiệu quả[3].

2.3. Phát triển đồng bộ các yếu tố của nền kinh tế thị trường

Tỉnh đã tiếp tục chỉ đạo các cấp, các ngành tăng cường công tác quản lý thực hiện các dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, quỹ đầu tư tài chính khác phù hợp với chuẩn mực và thông lệ quốc tế, góp phần nâng cao khả năng dự báo, phòng ngừa, giảm thiều các rủi ro và bất ổn có thể xảy ra, bảo đảm sự phát triển lành mạnh, hiệu quả của thị trường tài chính, tiền tệ vì vậy thời gian qua, hoạt động dịch vụ nhất là dịch vụ ngân hàng phát triển đa dạng và tiện ích với tốc độ cao dựa trên nền tảng công nghệ ngân hàng hiện đại.

Tăng cường công tác đấu tranh, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm về buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, đầu cơ tăng giá, thao túng thị trường, các hành vi bán hàng đa cấp bất hợp pháp vi phạm pháp luật cạnh tranh đồng thời tăng cường các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ để khuyến khích đầu tư cho sáng tạo, phát triển và đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp; triển khai thực hiện tốt cơ chế, chính sách phát triển thị trường công nghệ, thúc đẩy chuyển giao công nghệ, đặc biệt là công nghệ tiên tiến, công nghệ cao; thực hiện công khai, minh bạch, lành mạnh hóa công tác quản lý đất đai nhất là công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, công tác giải phóng mặt bằng,…; rà soát, kiểm kê quỹ nhà, trụ sở của các cơ quan tổ chức chính trị - xã hội, thu hồi và có kế hoạch sử dụng hiệu quả đất đai, trụ sở, nhà cửa đang sử dụng không đúng mục đích hoặc không hiệu quả; thực hiện tốt công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn, phát triển thị trường lao động đáp ứng nhu cầu sử dụng của các doanh nghiệp và nhu cầu tìm kiếm việc làm của người lao động.

2.4. Hiện đại hóa nông nghiệp và phát triển nông thôn

a) Đẩy mạnh thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài (FDI, ODA…) để phát triển nông lâm nghiệp: UBND tỉnh chỉ đạo các ngành chủ động tích cực tuyên truyền các chính sách ưu đãi để thu hút đầu tư vào nông nghiệp và phát triển nông thôn. Hiện đã có một số nhà đầu tư đến đầu tư và khảo sát một số dự án như: dự án Nhà máy gia công, sản xuất sản phẩm từ nhựa thông tại huyện Đình Lập đã được phê duyệt, do Công ty TNHH ROSIN INDUSTRIES (Hàn Quốc) làm chủ đầu tư; Tập đoàn TH đến khảo sát các dự án chế biến, trồng Quế Hồi, chăn nuôi bò, trồng cây dược liệu; dự án đầu tư trồng rừng cây gỗ lớn và trồng cây dược liệu dưới tán rừng tại huyện Văn Lãng và huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn do Công ty cổ phần Việt Sơn Lâm Nhất đầu tư; mời các nhà đầu tư của Hàn Quốc, Nhật Bản, Israel đến khảo sát hợp tác đầu tư các dự án, mô hình nông nghiệp công nghệ cao, tài trợ cho các dự án dân sinh, phát triển cộng đồng địa phương...

b) Tăng cường hợp tác trong kiểm dịch, phòng chống dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi qua biên giới: Để ngăn chặn kịp các dịch bệnh từ bên ngoài lây truyền vào địa bàn, trong những năm qua tỉnh đã chỉ đạo các cơ quan chức năng thực hiện tốt công tác kiểm dịch động thực vật qua biên giới. Đấu tranh ngăn chặn quyết liệt, kiên quyết bắt giữ và xử lý tiêu hủy động vật, sản phẩm động vật nhập lậu không rõ nguồn gốc, không đủ tiêu chuẩn vệ sinh thú y lưu thông trên địa bàn tỉnh. Đối với động vật và sản phẩm từ động vật, trong đó quan tâm đặc biệt ngăn chặn quyết liệt không để sản phẩm động vật không đảm bảo tiêu chuẩn thú y, gia cầm nhập lậu qua biên giới, qua địa bàn đi về các tỉnh phía sau.

c) Đẩy mạnh tái cơ cấu ngành nông nghiệp tạo động lực phát triển và hội nhập ngành nông nghiệp: Chương trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới có nhiều chuyển biến tích cực về nhận thức và cách thức tổ chức thực hiện, vùng sản xuất hàng hóa tập trung ngày càng rõ nét, các vùng sản xuất áp dụng tiêu chuẩn tiên tiến từng bước được hình thành và mở rộng; xây dựng và triển khai thực hiện Đề án đổi mới hình thức tổ chức sản xuất liên kết theo chuỗi giá trị sản phẩm nông lâm nghiệp. Sản xuất nông lâm nghiệp tăng trưởng ổn định, sản lượng thu hoạch các sản phẩm chủ lực như: Na, rau các loại, thuốc lá,... tăng so với cùng kỳ, mang lại giá trị kinh tế, đóng góp đáng kể vào giá trị tăng trưởng của ngành nông nghiệp. Đàn gia súc, gia cầm phát triển ổn định, tổng đàn tăng so với cùng kỳ. Công tác xã hội hóa đầu tư trồng rừng có chuyển biến tích cực, công tác quản lý, bảo vệ rừng đượctăng cường. Chương trình xây dựng nông thôn mới có chuyển biến tích cực, đã lựa chọn một số thôn tiêu biểu trong số các xã đạt chuẩn để tập trung xây dựng “Khu dân cư kiểu mẫu”; lựa chọn 03 dự án tổng thể và 07 mô hình phát triển sản xuất gắn với xây dựng nhãn mác sản phẩm, hình thành chuỗi để tập trung chỉ đạo điểm, bước đầu xuất hiện một số mô hình, hình thức tổ chức sản xuất hiệu quả.

2.5. Bảo vệ tài nguyên, môi trường và an ninh quốc phòng

a) Về bảo vệ tài nguyên, môi trường: Trong xây dựng các quy hoạch ngành, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, tỉnh Lạng Sơn đặc biệt quan tâm đến công tác bảo vệ môi trường sinh thái, bảo tồn đa dạng sinh học đồng thời nâng cao năng lực quan trắc môi trường trong khâu thẩm định dự án đầu tư, ngăn chặn tình trạng ô nhiễm môi trường do sản xuất công nghiệp, nông nghiệp gây ra; triển khai thực hiện các chính sách của Trung ương về đẩy mạnh xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường, xây dựng hệ thống thông tin về báo cáo môi trường, đẩy mạnh công tác truyền thông môi trường. Tích cực tuyên truyền, hướng dẫn nhân dân thực hiện tiêu chí môi trường trong xây dựng nông thôn mới;  Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh thường xuyên đưa các tin, bài về công tác bảo vệ môi trường, phát sóng thường kỳ hằng tuần chuyên mục “Vì màu xanh cuộc sống”; phê duyệt và thực hiện đề án “Tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng và năng lực quản lý về bảo tồn đa dạng sinh học, an toàn sinh học trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn”; hoàn thành chương trình quan trắc môi trường tỉnh Lạng Sơn; hoàn thành ngoại nghiệp của chương trình giám sát các cơ sở có nguy cơ gây ô nhiễm, các cửa khẩu, cụm công nghiệp theo quy định.

b) An ninh quốc phòng: Quán triệt, chỉ đạo, tổ chức triển khai thực hiện tốt các chủ trương của Đảng, Nhà nước về xây dựng và bảo vệ tổ quốc, cụ thể hóa Nghị quyết 28-NQ/TW ngày 22/9/2008 của Bộ Chính trị về tiếp tục xây dựng các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành khu vực phòng thủ vững chắc trong tình hình mới, Nghị định số 152/2007/NĐ-CP ngày 10/10/2007 về khu vực phòng thủ và Luật Quốc phòng… bảo vệ tốt đường biên, mốc giới trên đất liền, ký kết các văn bản hợp tác biên giới, Quy chế quản lý biên giới, thống nhất phân định biên giới; tổ chức rà phá bom mìn…; quán triệt thực hiện nghiêm túc Kết luận số 86-KL/TW ngày 05/11/2010 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 04/10/2006 của Bộ Chính trị về “Tăng cường lãnh đạo công tác bảo đảm an ninh quốc gia trong tình hình mới”; Chỉ thị số 49-CT/TW ngày 22/10/2010 của Bộ Chính trị về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng chống tội phạm trong tình hình mới”.

2.6. Đào tạo, phát triển và sử dụng nguồn nhân lực

Tăng cường hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực giáo dục, trước hết là với Quảng Tây-Trung Quốc; tăng cường giao lưu, học tập, trao đổi kinh nghiệm với đơn vị, chuyên gia nước ngoài có trình độ công nghệ phát triển hơn để tiếp thu, đưa các công nghệ tiên tiến vào triển khai tại địa phương. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, chất lượng dạy và học ngoại ngữ trong các trường phổ thông. Tiếp tục thực hiện các đề án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý, đào tạo cán bộ trẻ ở nước ngoài theo các chương trình hợp tác của Trung ương, của tỉnh.

Thực hiện tốt chương trình tổng thể cải cách giáo dục gắn với cuộc vận động chống tiêu cực trong ngành giáo dục và các chính sách đối với giáo viên. Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Đề án xã hội hoá trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo. Triển khai chương trình đào tạo tiếng Trung Quốc, tiếng Anh và các ngoại ngữ quốc tế thông dụng khác cho đội ngũ cán bộ, công chức, doanh nghiệp. Xây dựng chính sách thu hút nhân tài, thu hút những người có kiến thức, trình độ cao, các sinh viên tốt nghiệp khá, giỏi về làm tại tỉnh với chế độ đãi ngộ tốt. Đồng thời hàng năm đều có chính sách cử cán bộ trẻ, có năng lực công tác chuyên môn, có phẩm chất đạo đức đưa vào quy hoạch cán bộ nguồn tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng nâng cao, đặc biệt chú trọng đào tạo sau đại học và du học nước ngoài để hình thành đội ngũ cán bộ công chức thành thạo về chuyên môn nghiệp vụ, tận tụy với công việc, có trình độ quản lý tốt đáp ứng yêu cầu về quản lý hiện nay[4].

3.Kinh nghiệm về triển khai công tác hội nhập kinh tế quốc tế, các chương trình hành động củaChính phủ

- Quán triệt nghiêm túc, đầy đủ chỉ đạo của Trung ương; vận dụng triển khai chủ động, sáng tạo và linh hoạt trên cơ sở các điều kiện của địa phương.

- Chủ động nắm bắt các nguồn thông tin, tranh thủ ý kiến chuyên gia để nâng cao năng lực dự báo, linh hoạt, hài hòa điều chỉnh các mục tiêu, giải pháp phát triển kinh tế.

- Chủ động xây dựng nhiều kịch bản, phương án tăng trưởng kinh tế chịu sự tác động của hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là Trung Quốc.

- Quan tâm sâu sắc, gia tăng liên kết với các tỉnh, vùng, miền; khuyến khích và tạo điều kiện tối đa cho các địa phương trong cả nước quan hệ kinh tế với Trung Quốc qua đường Lạng Sơn.

- Tăng cường mở rộng, làm sâu sắc hơn quan hệ đối ngoại; thúc đẩy hợp tác quản lý biên giới, cửa khẩu, đảm bảo trật tự an toàn, an ninh khu vực biên giới.

4. Một số đề xuất kiến nghị:

- Đề nghị Ban chỉ đạo liên ngành Hội nhập quốc tế về kinh tế, Bộ Công Thương thường xuyên tổ chức tập huấn, hướng dẫn nghiệp vụ cho địa phương trong việc tăng cường năng lực HNKTQT.

- Đề nghị các Bộ, Ngành Trung ương hỗ trợ trong việc xây dựng Khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng - Lạng Sơn, Khu hợp tác kinh tế Đồng Đăng-Bằng Tường; Thúc đẩy nhanh đầu tư dự án đường cao tốc Hà Nội- Lạng Sơn và đầu tư nâng cấp tuyến đường sắt liên vận quốc tế Hà Nội- Đồng Đăng đạt tiêu chuẩn quốc tế.

- Hỗ trợ xây dựng một số cơ ở vật chất trọng điểm theo chương trình hỗ trợ của Chính phủ đối với các khu vực và hạng mục trọng điểm như: Khu hội chợ triển lãm quốc tế Lạng Sơn; các cụm công nghiệp; Khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng - Lạng Sơn; xây dựng các chợ tại địa bàn khó khăn, vùng sâu, vùng xa…

- Xây dựng cơ chế phối hợp cụ thể, chặt chẽ và có hiệu quả giữa các bộ, ngành, địa phương nhằm thống nhất từ Trung ương tới địa phương xử lý các vấn đề mà cơ quan quản lý nhà nước, cộng đồng doanh nghiệp, tổ chức hiệp hội ngành nghề… gặp phải trong quá trình thực hiện các cam kết hội nhập./.



[1]Tổ chức Lễ phát động Sản xuất Na an toàn theo hướng VietGap ngày  tại huyện Chi Lăng; Hội nghị xúc tiến thương mại tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp quả Na Chi Lăng giữa Thị Bằng Tường-Trung Quốc, Hà Nội và Lạng Sơn; Hỗ trợ, xây dựng sản phẩm nông nghiệp được cấp chứng chỉ VietGap gồm: Na Chi Lăng (40,1 ha), Hồng Bảo Lâm (20ha);Trong năm 2017, tổ chức Diễn đàn thúc đẩy tiêu thụ rau quả Việt Nam-Trung Quốc tại TP Lạng Sơn; Hỗ trợ xây dựng sản phẩm nông nghiệp được cấp nhãn hiệu tập thể Hồng Vành khuyên Văn Lãng, Thạch đen Tràng Định; cấp chứng chỉ VietGAP mới như: Na Chi Lăng lên tổng số diện tích là 80 ha, Hồng Vành khuyên 50 ha, Quýt Bắc Sơn 50 ha; triển khai ứng dụng tem truy suất nguồn gốc một số sản phẩm rau an toàn của Cao Lộc và Thành phố; Tổ chức thành công ngày hội Na Chi Lăng, khu trưng bày Na và các sản phẩm nông sản của Chi Lăng tại xã Quang Lang huyện Chi Lăng....

[2]Công ty Cổ phần Xi măng Đồng Bành (tạm ngừng từ năm 2012 đã hoạt động trở lại trong  năm 2013, hiện nay đã tích cực đổi mới công nghệ, mở rộng thị trường ra ngoài tỉnh và các nước Braxin, Malaysia, một số nước Châu phi); Công ty Cổ phần Kim loại màu Bắc bộ (trước đây là Công ty TNHH chế biến khoáng sản và luyện kim Hâm Thiên Lạng Sơn, đã đầu tư cải tiến dây truyền sản xuất, đầu tư mới thiết bị sản xuất điện phân chì với công suất thiết kế 10.000 tấn/1 năm, chất lượng chì đạt 99,99% Pb); Công ty TNHH Hoa Hồi Xứ Lạng (đã mở rộng thị trường các các nước: Pháp, Hàn Quốc, Ấn Độ); một số doanh nghiệp khác có chiến lược hội nhập và gia nhập thị trường khá tốt như: Công ty Cổ phần đá Đồng Mỏ, Công ty Cổ phần Vật liệu xây dựng và Kinh doanh tổng hợp – VVMI, Công ty Cổ phần Sản xuất Thương mại Dịch vụ Giang Sơn, Công ty TNHH Hải Cung...

[3]Mô hình liên kết gắn với đầu tư, hỗ trợ kỹ thuật như: Công ty Cổ phần Ngân Sơn từ năm 2011 đến nay đầu tư phát triển vùng trồng nguyên liệu thuốc lá trên địa bàn 43 xã của 7 huyện với diện tích là 3.900 ha; Liên kết mua bán gắn với bảo quản, sơ chế: Công ty Cổ phần Chè Thái Bình thu mua chế biến, bao tiêu sản phẩm cho người sản xuất, hiện có trên 500 ha chè đang cho thu hoạch, được trồng tập trung, sản lượng chè búp tươi ước đạt trên 2.000 tấn/năm, sơ chế chè khô ước đạt 500 tấn/năm; Công ty Cổ phần Chế biến thực phẩm xuất khẩu G.O.C xây dựng vùng nguyên liệu, bao tiêu sản phẩm trên địa bàn một số huyện của tỉnh; Liên kết mua bán: Hợp tác xã Thanh Tân, xã Tân Mỹ, huyện Văn Lãng có liên kết các xã viên để tiêu thụ giống cây ăn quả khi có các đơn hàng tập trung.

[4]Tổ chức Lớp cập nhật, bồi dưỡng kiến thức kỹ năng và nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác đối ngoại tỉnh Lạng Sơn; Cử cán bộ tỉnh tham gia các khóa bồi dưỡng do Trung ương tổ chức như: Khóa bồi dưỡng kỹ năng quản lý đối ngoại cấp phòng cho các tỉnh phía Bắc tại Hà Nội, Lớp Bồi dưỡng kỹ năng Biên phiên dịch tại Hà Nội, lớp cấp nhật kiến thức hội nhập quốc tế; Cử cán bộ tỉnh tham gia các khóa đào tạo ngắn hạn về xây dựng năng lực, nông thôn mới tại Hàn Quốc do KOICA và tỉnh Gangwon, Hàn Quốc tài trợ.

UBND tỉnh Lạng Sơn