Chủ trương của Đảng và Nhà nước về hội nhập và hội nhập kinh tế quốc tế

03/06/2015 | 00:00:00

Sau gần 30 năm thực hiện sự nghiệp đổi mới, đất nước ta đã từng bước hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới, mở rộng và làm sâu sắc hơn quan hệ với các nước, tham gia tích cực và có trách nhiệm tại các diễn đàn, tổ chức quốc tế. Có thể nói, hội nhập kinh tế quốc tế đã góp phần gia tăng sức mạnh tổng hợp quốc gia, tiếp thu tinh hoa của văn minh nhân loại, cải thiện đời sống nhân dân, củng cố niềm tin của mọi tầng lớp nhân dân và cộng đồng quốc tế vào sự nghiệp phát triển và đổi mới của đất nước, góp phần bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, nâng cao vị thế của nước ta trên trường quốc tế.

Chủ trương của Đảng và Nhà nước về hội nhập kinh tế quốc tếTiến trình hội nhập kinh tế quốc tế (HNKTQT) của Việt Nam bắt đầu từ rất sớm nhưng chủ yếu được đẩy mạnh từ sau khi Đảng ta phát động sự nghiệp đổi mới. HNKTQT là nội dung trọng tâm của Hội nhập quốc tế và là một bộ phận quan trọng, xuyên suốt của công cuộc đổi mới. Các quan điểm, chủ trương của Đảng về HNKTQT mang tính nhất quán, hệ thống, luôn được cập nhật và mang tính kế thừa qua các kỳ Đại hội.

Ngay từ những năm 1980 của thế kỷ 20, Đảng và Nhà nước đã sớm nhận thức được tính cần thiết và tất yếu của HNKTQT. Từ đó tới nay, đường lối, chủ trương hội nhập kinh tế của Đảng đã được đề ra nhất quán, không ngừng được hoàn thiện và triển khai tích cực, phù hợp với tình hình cụ thể của từng giai đoạn, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp Đổi mới, phát triển đất nước.

Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986 đề ra đường lối Đổi mới toàn diện và sâu sắc mọi lĩnh vực của nền kinh tế. Sự nghiệp Đổi mới của Việt Nam được tiến hành trong bối cảnh quốc tế có nhiều thay đổi sâu sắc và một cục diện, trật tự thế giới mới đang hình thành, trong đó các nước có chế độ chính trị khác nhau vừa đấu tranh vừa hợp tác. Đảng đã nhận thức rõ rằng bối cảnh đó là điều kiện để chúng ta phát triển đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ và rộng mở. Từ cuối nhiệm kỳ đại hội VI, Đảng đã có những hoạt động đẩy mạnh quá trình khôi phục và bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc, đánh dấu bằng việc ký kết bản Tuyên bố chung, thoả thuận khôi phục quan hệ bình thường giữa hai Đảng và hai Nhà nước vào tháng 11 năm 1991.

Đại hội Đảng lần thứ VII năm 1991 xác định rõ chủ trương “độc lập tự chủ, đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ đối ngoại” với phương châm “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển”, đánh dấu bước khởi đầu tiến trình hội nhập trong giai đoạn mới của nước ta. Nhờ chủ trương này, Việt Nam đã đẩy lùi được chính sách bao vây cô lập của các thế lực thù địch, không ngừng mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế đối ngoại song phương và đa phương sau khi hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu tan rã. Một cơ chế hợp tác mới ra đời, vận hành theo những quy luật mà hôm nay chúng ta đã rất quen thuộc: cơ chế thị trường. Đây là một cột mốc quan trọng đánh dấu bước khởi đầu của Việt Nam tham gia hội nhập kinh tế quốc tế trong thời kỳ mới.

Triển khai Nghị quyết Đại hội VII, Nghị quyết Trung ương 3 (Khoá VII) về chính sách đối ngoại và kinh tế đối ngoại đã cụ thể hoá hơn nữa chính sách đối ngoại của Việt Nam “phát huy những điểm đồng, hạn chế những điểm bất đồng” và nêu rõ chủ trương mở rộng quan hệ với các tổ chức quốc tế, trong đó nhấn mạnh “cố gắng khai thông quan hệ với các tổ chức tài chính, tiền tệ quốc tế như Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB)..., mở rộng hợp tác với các tổ chức khu vực, trước hết là ở Châu Á - Thái Bình Dương”.

Đại hội Đảng lần thứ VIII năm 1996 xác định sự cần thiết phải xây dựng một nền kinh tế mới hội nhập với khu vực và thế giới, hướng mạnh về xuất khẩu. Từ đó, Đảng đưa nhiệm vụ đối ngoại lên một tầm cao mới: “Nhiệm vụ đối ngoại trong giai đoạn tới là củng cố môi trường hoà bình và tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa để đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước” và “đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế”. Đây là lần đầu tiên Nghị quyết của Đảng đề cập đến việc đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế nhằm mục tiêu phục vụ sự nghiệp phát triển của đất nước. Nó đánh dấu một bước chuyển biến cơ bản trong nhận thức về nhu cầu cần tích cực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.

Nghị quyết số 01/NQ-TƯ của Bộ Chính trị ngày 18 tháng 11 năm 1996 về mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại và Nghị quyết 04/NQ-NHTƯ của Ban chấp hành Trung ương (Khoá VIII) ngày 29 tháng 12 năm 1997 về tiếp tục đổi mới, phát huy nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, cần kiệm để công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phấn đấu hoàn thành các mục tiêu kinh tế - xã hội đến năm 2000 là những văn kiện quan trọng chỉ đạo việc đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế của Việt Nam.

Nghị quyết 01/NQ-TƯ đã chỉ rõ 4 phương hướng phát triển kinh tế đối ngoại thời kỳ này là tăng cường xuất khẩu, thu hút đầu tư nước ngoài, thu hút và sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và phát triển các ngành dịch vụ định hướng xuất khẩu thu ngoại tệ. Trong đó, tăng cường xuất khẩu là trọng điểm chiến lược của kinh tế đối ngoại. Hội nhập kinh tế quốc tế cũng nhằm phục vụ tích cực cho phương hướng này.

Nghị quyết 04/NQ-NHTƯ của Ban chấp hành Trung ương ra đời trong bối cảnh Đảng ta đang nhìn lại những gì đã vượt qua để đánh giá khách quan những thách thức của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế cả trong nước và từ bên ngoài. Cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ trong khu vực và ở một số nước trên thế giới là một bài học lớn để chúng ta đúc rút những kinh nghiệm cho quá trình hội nhập và nhận thức rõ rằng chúng ta hội nhập thành công bằng chính sức mình, với nội lực được phát huy tối đa, hiệu quả kinh tế và sức cạnh tranh của nền kinh tế được nâng cao. Từ thực tế đó, Đảng ta đã đề ra nguyên tắc định hướng cho hội nhập kinh tế quốc tế: “Trên cơ sở phát huy nội lực, thực hiện nhất quán, lâu dài chính sách thu hút các nguồn lực bên ngoài”, “tích cực và chủ động thâm nhập và mở rộng thị trường quốc tế”.

Vấn đề phát huy nội lực và chủ động hội nhập được đề ra từ Nghị quyết này mang một ý nghĩa hết sức quan trọng: hội nhập không chỉ là tranh thủ thuận lợi từ bên ngoài, hội nhập phải là sự thay đổi, đổi mới từ ngay bên trong nền kinh tế. Những nhiệm vụ cụ thể đã được đề ra để tích cực, chủ động hội nhập là “Chủ động chuẩn bị các điều kiện về cán bộ, luật pháp và nhất là về những sản phẩm mà chúng ta có khả năng cạnh tranh để hội nhập thị trường khu vực và thị trường quốc tế. Tiến hành khẩn trương, vững chắc việc đàm phán hiệp định thương mại với Mỹ, gia nhập APEC và WTO. Có kế hoạch cụ thể để chủ động thực hiện các cam kết trong khuôn khổ AFTA”.

Đại hội Đảng lần thứ IX năm 2001 đã khẳng định tính tất yếu, đánh giá bản chất của toàn cầu hoá và cơ hội cũng như thách thức đối với Việt Nam khi tham gia quá trình này: "Toàn cầu hoá kinh tế là một xu thế khách quan, lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia, vừa có mặt tích cực, vừa có mặt tiêu cực, vừa có hợp tác, vừa có đấu tranh". Một trong những mặt tiêu cực của toàn cầu hoá được Đảng ta chỉ rõ là chủ nghĩa tư bản hiện đại đang nắm ưu thế về vốn, khoa học và công nghệ, thị trường. Toàn cầu hoá đang là xu thế khách quan nhưng đang bị chi phối bởi các nước tư bản phát triển và các tập đoàn tư bản xuyên quốc gia, do đó việc cần nhấn mạnh quan điểm độc lập tự chủ trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế có ý nghĩa hết sức quan trọng. Đảng ta cũng nhận thức rõ hội nhập kinh tế quốc tế mang lại nhiều cơ hội phát triển cho đất nước. Đảng chỉ rõ nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới là một trong bốn nguy cơ và chúng ta có thể tận dụng những cơ hội mà hội nhập kinh tế quốc tế mang lại để tránh khỏi nguy cơ này.

Đại hội IX đã kiểm điểm lại quá trình thực hiện đường lối đối ngoại do Đại hội VIII đề ra, một lần nữa khẳng định đường lối đối ngoại “độc lập, tự chủ, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế” và đề ra nguyên tắc cơ bản và bao trùm: “Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trường”. Đại hội IX đã đổi mới phương châm đối ngoại được đề ra từ Đại hội VII, phát triển phương châm “Việt Nam muốn là bạn với các nước...” thành “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy với các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển”.

Đại hội Đảng lần thứ X năm 2006 tiếp tục cụ thể hóa, đưa ra các chủ trương “chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế”, “lấy lợi ích dân tộc làm mục tiêu cao nhất”, “hội nhập sâu hơn và đầy đủ hơn với các thể chế kinh tế toàn cầu, khu vực và song phương”, “chuẩn bị tốt các điều kiện để ký kết các Hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương”.

Sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) vào tháng 1 năm 2007, Ban chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 5 tháng 2 năm 2007 về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của WTO.

Đại hội Đảng lần thứ XI năm 2011 đã thông qua Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2020, trong đó nhấn mạnh việc “không ngừng tăng cường tiềm lực kinh tế và sức mạnh tổng hợp của đất nước để chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng và có hiệu quả”, và “thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế...; tạo môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước”. Nghị quyết Đại hội XI đã nâng chủ trương “chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác” lên thành “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế”.

Để cụ thể hóa chủ trương này, ngày 10 tháng 4 năm 2013, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 22-NQ/TW về hội nhập quốc tế. Trên cơ sở đó, chúng ta đang chuyển sang giai đoạn hội nhập toàn diện: hội nhập giờ đây không chỉ giới hạn trong lĩnh vực kinh tế mà còn mở rộng trên nhiều lĩnh vực khác. Tuy nhiên, “hội nhập kinh tế là trọng tâm, hội nhập trong các lĩnh vực khác phải tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế và góp phần tích cực vào phát triển kinh tế, củng cố quốc phòng, bảo đảm an ninh quốc gia, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, thúc đẩy phát triển văn hóa, xã hội; hội nhập trong các lĩnh vực phải được thực hiện đồng bộ trong một chiến lược hội nhập quốc tế tổng thể với lộ trình, bước đi phù hợp với điều kiện thực tế và năng lực của đất nước” (trích Nghị quyết 22-NQ/TW).

Như vậy, với Nghị quyết 22-NQ/TW, tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế quốc tế của Việt Nam đã chuyển sang một giai đoạn mới, giai đoạn hội nhập toàn diện trên cả lĩnh vực cơ bản: kinh tế; chính trị, quốc phòng và an ninh; và văn hóa, xã hội, khoa học công nghệ và giáo dục, đào tạo.

Ngày 13 tháng 5 năm 2014, Chính phủ đã ra Nghị quyết số 31/NQ-CP ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 22-NQ/TW và ngày 10 tháng 7 năm 2014, Chính phủ đã ra Nghị quyết số 49/NQ-CP ban hành Chương trình hành động của Chính phủ tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa X về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của WTO. Đây là các văn bản quan trọng, đề ra định hướng và các nhiệm vụ chủ yếu triển khai công tác hội nhập trong thời gian tới.

Quá trình HNKTQT của Việt Nam trong gần 30 năm qua đã có những bước tiến quan trọng. Từ nhu cầu thực tế phải tăng cường mở rộng quan hệ hợp tác với các nước và tổ chức quốc tế để phá thế bị bao vây, cô lập ở những năm đầu thập kỷ 90, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đến nay đã mang một sắc thái mới. Chúng ta đã tích cực, chủ động để mở rộng thị trường ra nước ngoài và từng bước khẳng định vai trò của mình trong nền kinh tế khu vực và quốc tế.

Việt Nam đã từng bước hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới, mở rộng và làm sâu sắc hơn quan hệ với các nước, tham gia tích cực và có trách nhiệm tại các diễn đàn, tổ chức quốc tế. Có thể nói, hội nhập kinh tế quốc tế đã góp phần gia tăng sức mạnh tổng hợp quốc gia, tiếp thu tinh hoa của văn minh nhân loại, cải thiện đời sống nhân dân, củng cố niềm tin của mọi tầng lớp nhân dân và cộng đồng quốc tế vào sự nghiệp phát triển và đổi mới của đất nước, góp phần bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, nâng cao vị thế của nước ta trên trường quốc tế.

Trong HNKTQT, chúng ta đã trải qua giai đoạn thực hiện các cam kết ban đầu, đến nay quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đang ngày càng đi vào chiều sâu, việc thực hiện các cam kết trong giai đoạn mới chắc chắn sẽ có những ảnh hưởng lớn tới nền kinh tế.

Thực hiện các chủ trương, chính sách lớn của Đảng, tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế đã đạt được những kết quả vững chắc. Thành tựu lớn nhất trong phát triển kinh tế-xã hội giai đoạn 1990-2000 là nền kinh tế Việt Nam đã có bước phát triển mới về lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và hội nhập kinh tế quốc tế. Trong giai đoạn từ 2001 đến nay, đất nước ta tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc để đưa đất nước tiến nhanh và vững chắc theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh toàn cầu hóa là xu thế khách quan, lôi cuốn các nước, bao trùm hầu hết các lĩnh vực, vừa thúc đẩy hợp tác, vừa tăng sức ép cạnh tranh và tính tùy thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế. 

-----------------------------------------------------------------------------------

Một số văn bản chỉ đạo về hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam

Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 10 tháng 4 năm 2013 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế, đề cập và xác định rõ các vấn đề lớn liên quan đến hội nhập quốc tế của nước ta hiện nay, từ mục tiêu, quan điểm chỉ đạo, đến các nội dung cơ bản của hội nhập quốc tế trong các lĩnh vực và các định hướng giải pháp lớn để triển khai thực hiện.

Nghị quyết số 31/NQ-CP ngày 13 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 22-NQ/TW của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế.

Nghị quyết số 49/NQ-CP ngày 10 tháng 7 năm 2014 của Chính phủ Ban hành Chương trình hành động của Chính phủ tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa X về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới.

Chỉ thị số 15/CT-TTg ngày 07 tháng 7 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ về tiếp tục triển khai Nghị quyết 22-NQ/TW của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế.

Quyết định số 6433/QĐ-BCT ngày 21 tháng 7 năm 2014 của Bộ Công Thương ban hành Chương trình hành động của Bộ Công Thương thực hiện Nghị quyết số 31/NQ-CP ngày 13 tháng 5 năm 2014 của chính phủ về Chương trình hành động hội nhập quốc tế.

Quyết định số 9307/QĐ-BCT ngày 16 tháng 10 năm 2014 của Bộ Công Thương ban hành Chương trình hành động của Bộ Công Thương triển khai Nghị quyết số 49/NQ-CP ngày 10 tháng 7 năm 2014 của Chính phủ về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới.