Hợp tác trong lĩnh vực lương thực, nông nghiệp và lâm nghiệp (FAF)

06/11/2015 | 00:00:00

1.1.    Hợp tác ASEAN trong ngành Ngành lương thực, nông nghiệp và lâm nghiệp (FAF)

Lương thực, nông nghiệp và lâm nghiệp vốn là các ngành được ưu tiên hàng đầu trong ASEAN khi xem xét vai trò cũng như tầm quan trọng của các yếu tố ảnh hưởng kinh tế, xã hội và môi trường cũng như những đóng góp của các ngành này đối với an ninh lương thực và hạn chế nghèo đói trong tiến trình thành lập AEC vào năm 2015. ASEAN cam kết thành lập cơ sở sản xuất và thị trường thống nhất đồng thời gia tăng khả năng cạnh tranh của các sản phẩm FAF trên thị trường quốc tế.

Hợp tác ASEAN trong lĩnh vực nông lâm nghiệp sẽ làm gia tăng khả năng cạnh tranh của các sản phẩm nông nghiệp trong khu vực do có sự đảm bảo về chất lượng, an toàn và mức độ lợi ích sức khỏe. Thông qua việc hài hòa các tiêu chuẩn chất lượng, đảm bảo an toàn thực phẩm và tiêu chuẩn chứng nhận thương mại, các sản phẩm nông nghiệp của ASEAN dự kiến sẵn sàng cạnh tranh trên thị trường toàn cầu bởi tính an toàn, bảo đảm và chất lượng cao. ASEAN đã và đang phát triển kế hoạch “Sản xuất nông nghiệp tốt” (GAP), tiêu chuẩn hóa sản xuất, xử lí hàng nông sản trong và sau thu hoạch. ASEAN cũng đưa ra giới hạn dư lượng thuốc trừ sâu, công nhận tiêu chuẩn cho các sản phẩm chăn nuôi gia súc và tiêu chuẩn cho các doanh nghiệp, hướng dẫn thực hành quản lý hiệu quả trong ngư nghiệp, lập hệ thống quy tắc đạo đức, quy định trách nhiệm trong ngư nghiệp. Tất cả những quy định và hướng dẫn trên sẽ được sử dụng làm tài liệu tham khảo ưu tiên phát triển quốc gia và là phương tiện hỗ trợ ngành công -nông nghiệp. Các vấn đề xuyên suốt và mới nổi như an ninh lương thực, giảm nhẹ và thích ứng với biến đổi khí hậu của ngành nông nghiệp và lâm nghiệp, vệ sinh dịch tễ (SPS) đều được đưa vào danh sách ưu tiên hợp tác.

Đảm bảo an ninh lương thực sẽ tiếp tục là một vấn đề cốt lõi của động lực phát triển trong cộng đồng kinh tế ASEAN. Với sự quan tâm ngày càng gia tăng trong vấn đề an ninh lương thực, các nước thành viên ASEAN đã thông qua bản báo cáo về tình hình an ninh lương thực ASEAN, khuôn khổ An ninh lương thực tổng hợp ASEAN (AIFS) và Kế hoạch Chiến lược hành động An ninh lương thực ASEAN (SPA-FS) đã được thông qua để đảm bảo an ninh lương thực dài hạn và cải thiện đời sống của nông dân trong khu vực ASEAN.

Thỏa thuận khung đa ngành về biến đổi khí hậu trong ASEAN (AFCC): Nông nghiệp và Lâm nghiệp hướng tới an ninh lương thực, là một sáng kiến giải quyết những tác động của biến đổi khí hậu đối với hai ngành này. Rừng vẫn là nguồn tài nguyên thiên nhiên rất quan trọng đối với khu vực ASEAN về lợi ích kinh tế, môi trường và văn hóa xã hội. Thúc đẩy Quản lý Rừng bền vững (SFM), Thực thi Luật Lâm nghiệp và Quản trị (FLEG), Biến đổi khí hậu, giảm phá Rừng và suy thoái Rừng (REDD) là những vấn đề luôn được ASEAN quan tâm và ưu tiên. Đây vốn là các hoạt động để cắt giảm lượng khí CO2 và chặt phá rừng, đóng vai trò quan trọng trong công tác bảo vệ rừng, hướng tới sự phát triển kinh tế bền vững.

Để đảm bảo hoạt động quản lý rừng bền vững và giải quyết các nguy cơ cũng như thách thức đối với ngành lâm nghiệp trong khu vực, ASEAN đã thông qua rất nhiều hướng dẫn và tiêu chuẩn, cụ thể như sau: (i) Tiêu chuẩn và Chỉ tiêu ASEAN về Quản lý bền vững Rừng nhiệt đới bao gồm đánh giá, giám sát và báo cáo (MAR); (ii) Hướng dẫn ASEAN về việc thực hiện Đề xuất hành động IPF / IFF (Ban liên Chính phủ về Rừng / Diễn đàn liên chính phủ về Rừng); (iii) Hướng dẫn ASEAN về Phương pháp tiếp cận chứng nhận Rừng (PACt); (iv) Tiêu chuẩn và Chỉ tiêu ASEAN về Hợp pháp gỗ. ASEAN cũng tái khẳng định cam kết của mình trong cuộc chiến chống khai thác gỗ bất hợp pháp và liên quan đến thương mại trong Báo cáo Bộ trưởng về Tăng cường Thực thi và Quản trị Luật Lâm nghiệp (FLEG) trong ASEAN. Những hướng dẫn và tiêu chuẩn này đã mang lại các hướng tiếp cận chung cho các nước thành viên, đảm bảo tối ưu việc sử dụng các tài nguyên rừng một cách hợp lý.

Sản xuất nông nghiệp và lâm nghiệp ở cấp quốc gia là rất cần thiết cho việc hiện thực hóa một thị trường chung ASEAN. Điều này đòi hỏi phải tập hợp các chính sách kinh tế vĩ mô; điều kiện kinh tế cụ thể của mỗi quốc gia, chất lượng giáo dục cho nông dân; áp dụng công nghệ phù hợp; truyền thông và tiếp thị nhằm cung cấp kịp thời thông tin đầu vào, nâng cao hiệu quả và giảm chi phí sản xuất.

Tăng trưởng bền vững bảo vệ rừng và chống lại sự biến đổi khí hậu cần phải được chú trọng đảm bảo nhu cầu tiêu dùng ngày càng gi tăng về sản phẩm sản xuất bền vững và định vị ASEAN là thị trường mới nổi có năng lực cạnh tranh.

1.2.   Khuôn khổ An ninh lương thực tổng hợp ASEAN (AIFS)

Với nỗ lực bình ổn giá cả lương thực vốn đang biến động mạnh trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008, ASEAN phải thông qua một chiến lược đảm bảo an ninh lương thực dài hạn trong khu vực.

Khuôn khổ An ninh lương thực tổng hợp ASEAN (AIFS) và Kế hoạch Chiến lược hành động An ninh lương thực ASEAN (SPA-FS) được các nhà lãnh đạo ASEAN thông qua trong cuộc họp thượng đỉnh ASEAN lần thứ 14 vào năm 2009, đồng thời cũng đưa ra kế hoạch hành động 5 năm cho các nước thành viên nhằm hội nhập và đẩy mạnh an ninh lương thực. Khuôn khổ AIFS thúc đẩy tăng cường an ninh lương thực và phát triển sản xuất lương thực bền vững thông qua thay đổi cơ sở hạ tầng nông nghiệp, hạn chế tối đa thất thoát sau thu hoạch, cắt giảm chi phí giao dịch, tối đa hóa các nguồn tài nguyên nông nghiệp, thúc đẩy đổi mới nông nghiệp thông qua nghiên cứu và phát triển, gia tăng năng suất nông nghiệp, nhanh chóng chuyển giao tiếp thu công nghệ mới. Khuôn khổ AIFS hướng tới mục tiêu đẩy mạnh chương trình an ninh lương thực quốc gia, tạo ra cơ chế đảm bảo dự trữ an ninh lương thực trong khu vực, viện trợ lương thực trong trường hợp khẩn cấp và thiên tai trên diện rộng.

Các sáng kiến bổ sung đẩy mạnh hoạt động an ninh lương thực gồm có: nâng cấp thị trường và các giao dịch chủ chốt, khuyến khích phát triển bền vững trong sản xuất lương thực, khuyến khích nhiều hơn nữa các hoạt động đầu tư của khu vực tư nhân và nhà nước đối với phát triển ngành lương thực và công nghiệp dựa trên nền tảng nông nghiệp, đẩy mạnh hệ thống thông tin an ninh lương thực tổng hợp (như cảnh báo sớm, cơ chế kiểm tra giám sát). Hệ thống thương mại và thị trường chức năng sẽ góp phần đẩy mạnh dòng chu chuyển nông sản tự do từ các nước dư cung lương thực sang các nước còn thiếu. Đây chính là những nỗ lực mà AEC hiện đang thực hiện cùng với mục tiêu an ninh lương thực, điều này có thể dẫn đến đẩy mạnh mối quan hệ hợp tác giữa khu vực nhà nước và khu vực tư nhân, đẩy mạnh chuỗi giá trị lương thực và lợi thế hóa thương mại giữa các quốc gia.

Các vấn đề mới xuất hiện liên quan tới an ninh lương thực như phát triển nhiên liệu sinh học và những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đối với an ninh lương thực cũng trở thành một bộ phận không thể tách rời của khuôn khổ AIFS. Liên quan tới vấn đề này, ASEAN đảm bảo bằng khuôn khổ đa ngành đối với vấn đề biến đổi khí hậu: Nông nghiệp và Lâm nghiệp hướng tới an ninh lương thực (AFCC), chiến lược cạnh tranh với an ninh lương thực và phát triển nguồn năng lượng sinh học. Những sáng kiến bổ sung này thúc đẩy sự phục hồi của các hệ thống sản xuất lương thực, đồng thời góp phần đảm bảo an ninh lương thực trong khu vực.

Các bộ trưởng nông nghiệp và lâm nghiệp ASEAN cùng hợp tác với các cơ quan khác trong ngành để kiểm tra và giám sát việc thực hiện khuôn khổ AIFS và SPA-FS. Các ý kiến tư vấn cũng sẽ được tìm kiếm ở cấp độ quốc gia và khu vực, đồng thời tìm kiếm sự hợp tác của các tổ chức quốc tế và các nhà tài trợ như tổ chức nông lương thế giới, ngân hàng thế giới, viện nghiên cứu lúa quốc tế, quỹ phát triển nông nghiệp và ngân hàng phát triển châu Á.

1.3.   An toàn thực phẩm

Trong nhiều năm liền, ASEAN đã và đang nỗ lực hết sức để nâng cấp hệ thống và quá trình kiểm soát lương thực, đảm bảo dòng chu chuyển tự do hơn của các sản phẩm an toàn, có lợi cho sức khỏe với chất lượng cao trong khu vực. Việc đảm bảo các tiêu chuẩn để thừa nhận an toàn thực phẩm trên toàn thế giới là vấn đề hết sức quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh trên trường quốc tế. Việc này đòi hỏi phải hòa hợp các tiêu chuẩn về chất lượng sản phẩm, an toàn thực phẩm, các chứng chỉ thương mại cho thực phẩm và sản phẩm nông nghiệp trong khu vực.

1.3.1.   Các biện pháp chính nhằm bảo đảm an ninh lương thực

Vào năm 2004, mạng an toàn thực phẩm ASEAN được thiết lập với vai trò là nơi để các cơ quan ASEAN trao đổi thông tin về an toàn thực phẩm, thảo luận về cách tiếp cận chung nhằm thực thi hệ thống an toàn thực phẩm ở cấp độ quốc gia, đồng thời thảo luận các vấn đề quan tâm chung liên quan tới sử dụng các tiêu chuẩn an ninh lương thực như rào cản kỹ thuật trong thương mại (TBT). Vào năm 2006, phương pháp sản xuất nông nghiệp tốt cho rau quả tươi (ASEAN GAP) đã được thông qua, qua đó hình thành các tiêu chuẩn chung áp dụng trong sản xuất, thu hoạch, xử lý sau thu hoạch đối với rau quả trong khu vực. Mục đích của ASEAN GAP là đảm bảo chất lượng cũng như an toàn rau quả được sản xuất tại khu vực. Thêm vào đó, ASEAN GAP cũng đảm bảo rằng thực phẩm được sản xuất và kiểm soát theo cách không gây nguy hại cho môi trường hay sức khỏe cũng như an toàn và lợi ích của công nhân làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp và thực phẩm.

Tính đến thời điểm này, ASEAN đã thiết lập được tổng cộng 802 giới hạn dư lượng tối đa (MRLs) cho 63 loại thuốc trừ sâu khác nhau. Các tiêu chuẩn chung đối với sản xuất và đóng gói xoài, táo, sầu riêng, đu đủ, bưởi, chôm chôm, vải, bon bon, quýt, măng cụt, dưa hấu, dừa non, chuối, tỏi, hẹ, mít, dưa chuột, dưa, mây sa lắc đã được thông qua để đảm bảo chất lượng và độ tươi của các loại hoa quả này. ASEAN cũng đảm bảo có tới 49 tiêu chuẩn hòa hợp áp dụng cho các loại vắc xin cho động vật. 13 tiêu chuẩn để cấp phép cho các doanh nghiệp chăn nuôi gia súc và 3 tiêu chuẩn công nhận các sản phẩm chăn nuôi gia súc.

Mục tiêu thiết lập các hệ thống đảm bảo an toàn thực phẩm đã đem lại những tiến bộ vượt bậc trong các lĩnh vực quan trọng khác nhau ảnh hưởng tới an toàn thực phẩm. ASEAN đang tìm cách tăng cường mạng lưới kiểm tra thực phẩm hiệu quả, đưa ra các hướng dẫn trong hoạt động quản lý tôm hiệu quả, thực hiện hệ thống phân tích mối nguy và kiểm soát điểm tới hạn (HCCP) đồng thời phát triển mã thực hiện trong ngư nghiệp đối với hoạt động đánh bắt cá và các sản phẩm ngư nghiệp.

1.3.2.   Giải quyết mối nguy hại cúm gà

Sự bùng phát dịch cúm gà trong những năm gần đây đã khiến cho xã hội ngày càng quan tâm sâu sắc tới vấn đề an toàn thực phẩm trong khu vực. Các ca nhiễm cúm gà đã được chứng minh có những mối liên hệ trực tiếp tới các loại gia cầm bị bệnh hoặc chết trong suốt quá trình giết mổ và chuẩn bị thực phẩm. ASEAN ngay lập tức đã phản ứng lại bằng việc thông qua lộ trình thực hiện AEC không có HPAI vào năm 2020. Đây là một chiến lược dài hạn nhằm ngăn chặn, kiểm soát và loại trừ bệnh dịch trong khu vực. Trong số các phương pháp khác nhau được đề cập tới trong lộ trình kiểm soát bệnh dịch từ gốc rễ, phương pháp chuẩn đoán bệnh hiện đại, năng lực phát hiện sớm và chia sẻ kịp thời các thông tin bùng nổ bệnh dịch sẽ đẩy mạnh công tác an toàn thực phẩm đối với các sản phẩm từ gia cầm trong khu vực.

Trong mối quan hệ hợp tác ngày càng khắng khít giữa các nước thành viên cùng với các nhà tài trợ dưới hình thức là một quốc gia hay tổ chức quốc tế như ngân hàng phát triển châu á (ADB), tổ chức nông lương thế giới (FAO), tổ chức dịch tễ thế giới (OIE), ASEAN cũng phải nâng cao năng lực nhằm đảm bảo an toàn lương thực và tiêu chuẩn hóa các hoạt động kiểm soát thực phẩm trong khu vực.

1.4.   Biến đổi khí hậu

Kiểm soát nguy cơ do biến đổi khí hậu gây ra đối với môi trường và sự phát triển kinh tế đã trở thành vấn đề ưu tiên hàng đầu tại ASEAN. Do đường bờ biển dài, mật độ dân số cao, hoạt động kinh tế tại khu vực ven biển sôi động, đồng thời do sự phụ thuộc chặt chẽ vào nông nghiệp, ngư nghiệp, lâm nghiệp và các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác, Đông Nam Á đã trở thành một trong những khu vực có nguy cơ lớn nhất trên thế giới chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu. Sự nóng lên toàn cầu đang gây ra ảnh hưởng tới tất cả các khu vực kinh tế. Trước nguy cơ này, ASEAN đã thông qua khuôn khổ đa ngành đối với vấn đề biến đổi khí hậu hướng tới an ninh lương thực (AFCC) nhằm mục đích làm giảm bớt nguy cơ của biến đổi khí hậu và nâng cao sự quan tâm của cộng đồng cũng như của hệ sinh thái.

Được thông qua bởi các bộ trưởng nông nghiệp và lâm nghiệp ASEAN, AFCC hướng tới giải quyết vấn đề về an ninh lương thực bằng cách sử dụng đất, rừng, nước, các tài nguyên biển hiệu quả và ổn định, hạn chế tối đa các nguy cơ và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu. AFCC coi các vấn đề về biến đổi khí hậu là vấn đề rộng khắp liên quan tới tất cả các ngành, do đó hợp tác ngành với nỗ lực hạn chế biến đổi khí hậu là không thể thiếu được.

AFCC hướng tới mục tiêu tăng cường công tác quản lý bền vững đối với đất, rừng và các tài nguyên nước thông qua chiến lược hợp tác và phối ứng cũng như cắt giảm để hạn chế tối đa rủi ro, ảnh hưởng của biến đổi khí hậu. AFCC cũng hướng dẫn các nước thành viên ASEAN trong việc: Hội nhập chiến lược phối ứng và cắt giảm tác động của biến đổi khí hậu theo khuôn khổ chính sách phát triển kinh tế và xã hội.

Hợp tác thực hiện các biện pháp cắt giảm và phối ứng trong:

  • Đẩy mạnh chia sẻ kiến thức, kết nối và thiết lập mạng lưới trong nước và trong khu vực đối với vấn đề biến đổi khí hậu và an ninh lương thực.
  • Phát triển khuôn khổ và lộ trình chiến lược đa ngành toàn diện hơn trong dài hạn để cắt giảm, hạn chế ảnh hưởng của biến đổi khí hậu.

Biến đổi khí hậu vốn là một vấn đề liên quan tới nhiều ngành nghề và yêu cầu phải có sự hợp tác không những tại địa phương, trong nước mà còn ở trong khu vực do đó đòi hỏi phải có sự hợp tác trong quá trình phát triển kinh tế và môi trường ở tất cả các ngành nghề như nông-lâm nghiệp, ngư nghiệp, chăn nuôi và năng lượng. Chiến lược cắt giảm và hạn chế biến đổi khí hậu phải gắn liền với quản lý bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên và đảm bảo an ninh lương thực trong khu vực.

Thúc đẩy phát triển năng lực và trình độ để nâng cao tầm nhận thức của công chúng đối với vấn đề nóng lên toàn cầu đóng vai trò ngày càng quan trọng khi theo đuổi mục tiêu hội nhập khu vực dưới ảnh hưởng khắc nghiệt của biến đổi khí hậu.

1.5.   Quản lý Rừng bền vững (SFM)

Quản lý Rừng bền vững (SFM) phải được thực hiện với sự kết hợp của nhiều lĩnh vực khác nhau, và phải xem xét đến các yếu tố kinh tế, xã hội, môi trường. Nỗ lực nhằm đảm bảo các loại hàng hóa và dịch vụ từ rừng thỏa mãn được nhu cầu hiện tại cũng phải đảm bảo được rừng có thể cung cấp tài nguyên đảm bảo nhu cầu trong dài hạn.

Thúc đẩy quản lý rừng bền vững trong khu vực ASEAN phải ưu tiên loại bỏ hoạt động khai thác gỗ trái phép và các hoạt động thương mại liên quan, đồng thời phải ưu tiên nâng cao năng lưc, chuyển giao công nghệ, nâng cao nhận thức của công chúng, phát huy hiệu quả áp dụng luật và quản trị. Các chỉ số và tiêu chuẩn trong ASEAN (C&I) dung để đánh giá quản lý rừng bền vững được các bộ trưởng nông nghiệp và lâm nghiệp ASEAN thông qua năm 2007. Sự kiện này tạo ra khuôn khổ đảm bảo quản lý rừng bền vững và đánh giá những tiến bộ khi áp dụng khuôn khổ này so với mục tiêu đề ra. Đây là công cụ giúp xác định xu hướng ngành lâm nghiệp và ảnh hưởng của việc can thiệp vào hoạt động quản lý rừng theo thời gian đồng thời cũng lợi thế hóa các quyết định liên quan tới chính sách rừng quốc gia. Mục đích rõ ràng nhất của công cụ này chính là thúc đẩy thực tiễn quản lý rừng tiên tiến, và phát triển nguồn tài nguyên rừng hiệu quả hơn, có lợi cho sức khỏe hơn.

ASEAN đã phát triển hoạt động kiểm tra giám sát, đánh giá và báo cáo trực tuyến cũng như ngoại tuyến (MAR) theo những tiêu chuẩn và tiêu chí nhất định (C&I), hỗ trợ các nước thành viên trong công tác giám sát tiến độ thực hiện SFM. Các nước thành viên ASEAN đồng ý sử dụng MAR trực tuyến như một cơ chế báo cáo trong khu vực. Thực hiện kiểm tra MAR thông qua các hoạt động bổ trợ trong nước và trong khu vực cũng đã và đang được thực hiện.

Để đẩy nhanh quá trình nâng cao nhận thức và hỗ trợ của công chúng trong hoạt động quản lý rừng bền vững, ASEAN đã phải phối hợp với tổ chức nông lương liên hiệp quốc (FAO) để thực hiện dự án “Tăng cường kiểm tra giám sát, đánh giá và báo cáo hoạt động quản lý rừng bền vững tại châu Á” (MAR-SFM). Dự án này sẽ thúc đẩy MAR trực tuyến và ngoại tuyến cũng như các ứng dụng của MAR trong ASEAN bằng việc áp dụng MAR-SFM cho các đơn vị quản lý rừng tại ASEAN. Dự án này cũng đưa ra phân tích so sánh giữa khuôn khổ C&I khu vực, C&I quốc gia và các cơ chế thực hiện MAR với nhau.

Một bản kế hoạch hành động kéo dài trong 8 năm từ 2008 đến 2015 nhằm thúc đẩy thực thi và quản trị luật lâm nghiệp (FLEG) đã được thông qua bởi các bộ trưởng nông lâm nghiệp ASEAN năm 2008. Kế hoạch này đòi hỏi các nước thành viên ASEAN phải thúc đẩy hoạt động quản lý rừng bền vững nhằm bảo vệ rừng và đảm bảo nguồn cung gỗ ổn định, nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường mới đối với các sản phẩm lâm nghiệp bền vững.

Đẩy mạnh hoạt động thực thi và quản trị luật lâm nghiệp để nâng cao năng lực cạnh tranh dài hạn của các sản phẩm lâm nghiệp đóng vai trò quan trọng trong cải thiện đời sống của những người sống phụ thuộc vào lâm nghiệp và giảm tỷ lệ nghèo đói trong khu vực. Theo nghĩa này, hướng dẫn ASEAN về Phương pháp tiếp cận chứng nhận Rừng (PACt) và các chỉ số & tiêu chí đánh giá tính hợp pháp của khai thác gỗ đã được ASEAN thông qua. PACt đưa ra các kế hoạch hành động được các đơn vị quản lý rừng thực hiện với mục đích đảm bảo tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả cấp phép và được thực hiện bởi một cơ quan độc lập (bên thứ ba). C&I của ASEAN để đánh giá tính hợp pháp trong khai thác khỗ là một bản tham khảo được sử dụng trong ASEAN, đặc biệt là tại các quốc gia sản xuất gỗ.