Hợp tác thuận lợi hóa thương mại hàng hóa

06/11/2015 | 00:00:00

1.1.   Thuận lợi hóa thương mại

Với mục tiêu thành lập AEC trong năm 2015, ASEAN từng bước nâng cao lợi thế thương mại bằng việc dỡ bỏ hàng rào thương mại phi thuế quan, đẩy mạnh dòng chu chuyển tự do hàng hóa và dịch vụ trong khu vực cũng như giữa các quốc gia thành viên ASEAN (AMS)

Để khuyến khích dòng chu chuyển tự do hàng hóa và phát triển mạng lưới sản xuất hội nhập hơn trong khu vực, các nước ASEAN đã thông qua Chương trình thuận lợi hóa thương mại và Các chỉ tiêu thuận lợi hóa thương mại vào năm 2008 và 2009. Thuận lợi hóa thương mại là một chương trình cải cách nhằm đẩy mạnh lợi thế thương mại trong khu vực ASEAN bằng việc cắt giảm chi phí giao dịch. Chỉ tiêu thuận lợi hóa thương mại là các chỉ tiêu định lượng xác định mức ảnh hưởng của cải cách thương mại đối với khu vực nhà nước nói chung và khu vực tư nhân nói riêng.

1.1.1.   Dỡ bỏ hàng rào thuế quan

Vào tháng 1 năm 2010, các quốc gia Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan (ASEAN-6) đã xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với 99.65% trong tổng số các dòng thuế trong đó mức thuế 0% áp dụng cho 24.15% tổng số hàng hóa từ các ngành ưu tiên hội nhập (PIS) như nông nghiệp, hàng không (vận chuyển bằng đường hàng không), ô tô, e-ASEAN, điện tử, ngư nghiệp, chăm sóc sức khỏe, cao su, dệt may và thời trang, du lịch, nghành công nghiệp gỗ, 14.92% các sản phẩm từ thép và inox, 8.93% các sản phẩm cơ khí và máy móc, 8% các sản phẩm liên quan đến hóa chất.

Tương tự như vậy, Campuchia, Lào, Myanmar và Việt Nam cũng cắt giảm thuế nhập khẩu xuống còn 0-5% đối với 98.86% dòng thuế cho các loại hàng hóa nói trên, ngoài ra các loại hàng hóa có xuất xứ từ ASEAN như thực phẩm chế biến, đồ đạc nội thất, nhựa, giấy, xi măng, gốm sứ, thủy tinh, nhôm xuất khẩu sang Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore and Thái Lan cũng được hưởng mức thuế suất 0%.

(Thông tin chi tiết về các mức thuế nhập khẩu trong ASEAN (Biểu thuế ATIGA) có thể được tìm thấy tại website của ASEAN: http://www.asean.org/25053.htm ).

1.1.2.   Thúc đẩy minh bạch hóa thương mại

ASEAN dự định thành lập trung tâm dữ liệu thương mại ASEAN (ATR) vào năm 2015, đây sẽ là trung tâm thông tin điều tiết cấp quốc gia và cấp khu vực. ATR sẽ cung cấp thông tin điều tiết liên quan tới biểu thuế quan, hàng rào thuế quan ưu đãi theo hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA), quy tắc xuất xứ (ROO), các biện pháp phi thuế quan (NTMs), thương mại trong nước, nguyên tắc và luật hải quan, tài liệu cần thiết, danh sách thương nhân được chỉ định của các quốc gia thành viên ASEAN.

 Ngay khi được thành lập và hoạt động với đầy đủ chức năng, ATR sẽ được đưa lên internet để phục vụ cho các nhà xuất khẩu, nhập khẩu, thương nhân, cơ quan nhà nước, cho những người tìm kiếm thông tin và cho công chúng.

1.1.3.   Cải cách về quy tắc xuất xứ

Để thúc đẩy thông quan hàng hóa và nâng cao tính minh bạch trong giao dịch giữa các quốc gia, các thành viên ASEAN hiện đang phát triển hệ thống chính sách một cửa (ASW), đây là hệ thống liên kết cấp khu vực và sẽ tạo nền móng cho hợp tác hội nhập giữa các quốc gia cũng như người sử dụng cuối cùng đối với dòng chu chuyển hàng hóa tự do trong ASEAN.

Bộ quy tắc xuất xứ này (ROO) sẽ liên tục được điều chỉnh nhằm phản ánh đúng những thay đổi trong quá trình sản xuất trên thế giới, cũng là để bộ quy tắc này trở nên dễ sử dụng hơn, phản ánh đầy đủ những gì diễn ra trong khu vực thương mại tự do ASEAN. Bộ ROO được điều chỉnh, cập nhật, giới thiệu về các tiêu chuẩn xuất xứ nhằm đưa ra nhiều sự lựa chọn hơn cho các đối tượng kinh tế khác nhau khi quy định xuất xứ ASEAN cho hàng hóa được giao dịch trong khu vực. Bộ ROO này là một phần của bộ quy cách phẩm chất hàng hóa (PSR), điều này mang lại lựa chọn về cách áp dụng quy tắc xuất xứ trong số các quy tắc xuất xứ dựa vào RVC(1), quy tắc CTC(2), hoạt động sản xuất và chế biến cụ thể hoặc sự kết hợp của bất kỳ quy tắc nào nói trên.

Các nước thành viên ASEAN cũng đang xem xét thành lập cơ chế tự cấp giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa. Cơ chế này sẽ được thực hiện vào năm 2012, cho phép những người thực sự tham gia vào các hoạt động kinh tế như người xuất khẩu, thương nhân, người sản xuất khi đã đáp ứng đầy đủ các yêu cầu cần thiết, thì được phép tự cấp chứng chỉ xuất xứ hàng hóa cho mình thay vì phải xuất trình một chứng nhận xuất xứ do nhà nước cấp.

1.2.   Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA)

Mục tiêu thành lập thị trường và cơ sở sản xuất đồng nhất vào năm 2015 với dòng lưu chuyển hàng hóa tự do đòi hỏi phải có sự kết hợp của những biện pháp hội nhập sẵn có và các biện pháp bổ sung tương ứng với thương mại hàng hóa trong khu vực. Để đạt được điều này, các bộ trưởng kinh tế ASEAN trong tháng 8/2007 đã nhất trí thực hiên chương trình thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung cho khu vực thương mại tự do ASEAN (CEPT/AFTA) và biến nó trở thành công cụ pháp lý toàn diện hơn. Chính điều này đã dẫn tới việc ký kết hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA) vào tháng 2 năm 2009.

1.2.1.   Những vấn đề cơ bản của ATIGA

i.      ATIGA hợp nhất và đơn giản hóa tất cả các điều khoản của CEPT/AFTA đồng thời cũng bổ sung một số quyết định của các bộ trưởng và theo đó ATIGA đã trở thành công cụ pháp lý chung hướng dẫn khu vực tư nhân và các cơ quan chức năng có trách nhiệm thực thi và triển khai hiệp định này.

ii.     Phụ lục ATIGA bao gồm lộ trình hoàn thiện cắt giảm hàng rào thuế quan áp dụng với các quốc gia thành viên và loại bỏ dần các mức thuế cụ thể áp dụng với từng loại hàng hóa khác nhau cho từng năm đến năm 2015. Do đó, lộ trình cắt giảm hàng rào thuế quan trở nên minh bạch hơn và có thể dự đoán trước được trong cộng đồng kinh tế. Các văn bản pháp lý hoàn chỉnh về lộ trình cắt giảm hàng rào thuế quan ATIGA của tất cả các thành viên ASEAN được đề cập cụ thể và đưa lên website của ASEAN (http://www.asean.org/25053.htm).

iii.    ATIGA bao gồm các điều khoản đảm bảo dòng chu chuyển tự do hàng hóa trong ASEAN như: tự do hóa thuế quan, dỡ bỏ hàng rào phi thuế quan, quy tắc xuất xứ, lợi thế hóa thương mại, hải quan, tiêu chuẩn và tính hợp lý của tiêu chuẩn, biện pháp vệ sinh dịch tễ. ATIGA còn bao gồm cả những cam kết toàn diện liên quan tới thương mại hàng hóa cùng những thỏa thuận và cơ chế giữa các tổ chức hỗ trợ cho quá trình thực hiện. Điều này cho phép các cơ quan liên ngành trong ASEAN có được hành động đồng nhất.

iv.    Để thực hiện mục tiêu xóa bỏ hàng rào phi thuế quan, cần phải có các biện pháp cụ thể để thực hiện các điều khoản của biện pháp phi thuế quan trong ATIGA đồng thời cũng phải thiết lập cơ chế giám sát cam kết xóa bỏ rào cản phi thuế quan.

v.     ATIGA cũng bao hàm cả hiệp định khung ASEAN về lợi thế hóa thương mại. Theo đó, ASEAN sẽ phát triển chương trình thuận lợi hóa thương mại giai đoạn 2009-2015 và phát triển khả năng tối ưu hóa các chỉ số thuận lợi kinh doanh của World Bank như là một cơ sở tiếp cận quá trình thuận lợi hóa thương mại trong ASEAN.

1.2.2.   Hiệu lực của ATIGA

Chính thức có hiệu lực từ tháng 5 năm 2010, ATIGA đã mang lại rất nhiều lợi ích cho nhà nhập khẩu cũng như xuất khẩu thông qua ưu đãi từ việc cắt giảm hàng rào thuế quan và rào cản phi thuế quan. Tương tự như vậy, người tiêu dùng trong khối ASEAN cũng đang được hưởng lợi từ việc tiếp cận với rất nhiều chủng loại hàng hóa có mức giá thấp.

Sau khi ATIGA có hiệu lực, một số thỏa thuận nhất định liên quan tới thương mại hàng hóa trong ASEAN như CEPT và một số nghị định khác sẽ không còn hiệu lực nữa. Tuy nhiên, những thỏa thuận này về mặt hành chính vẫn được coi như một phụ lục của ATIGA cho đến khi những thỏa thuận hỗ trợ tương ứng được sửa đổi, bổ sung và ký kết.

1.3.   Hiện đại hóa hệ thống hải quan

Các cơ quan hải quan trong ASEAN đang xúc tiến cải cách và hiện đại hóa phương pháp cũng như thủ tục hải quan để nâng cao lợi thế thương mại trong ngành.

Chương trình chiến lược phát triển hải quan (SPCD) quy định chỉ được phép dỡ container khỏi tàu trong vòng 30 phút. Để hiện đại hóa hệ thống hải quan, các ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông đã được sử dụng để thông quan hàng hóa trong khu vực ASEAN theo tiêu chuẩn quốc tế. Việc này sẽ góp phần làm giảm chi phí giao dịch và thời gian thông quan hàng hóa dưới sự kiểm soát của hải quan. Cục hải quan ASEAN hiện cũng đang tích cực phối hợp với các ngành khác nhau để đẩy mạnh và cải thiện chất lượng dịch vụ hải quan cũng như mức độ tuân thủ các tiêu chuẩn định sẵn.

Việc cắt giảm hàng rào thuế quan xuống 0% đối với 99.65% dòng thuế trong ASEAN 6 (Brunei Darussalam, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan), 0-5% đối với 98.86% dòng thuế cho 4 quốc gia còn lại tại khu vực từ tháng 1 năm 2010 đã cho thấy nỗ lực vượt bậc của các cơ quan hải quan trong công tác nâng cao lợi thế thương mại thông qua thông quan hàng hóa.

1.3.1.   Quy trình thực hiện và các thành tựu đạt được

  • Cục hải quan ASEAN đã thông qua tầm nhìn hải quan ASEAN 2015 trong cuộc họp tổng cục trưởng hải quan ASEAN diễn ra tại Vientiane, Lào tháng 6 năm 2008.
  • Hiệp ước hải quan ASEAN (1997) đã đạt được những bước tiến đáng kể trong công cuộc hỗ trợ thực hiện hóa cộng đồng kinh tế ASEAN. Các điều khoản mới của hiệp ước cho phép hoạt động hải quan trong ASEAN tuân thủ theo đúng tiêu chuẩn và quy ước quốc tế như công ước Kyoto sửa đổi, hiệp định trị giá hải quan WTO, và thực hiện khung tiêu chuẩn SAFE của tổ chức hải quan thế giới.
  • Các nước thành viên hiện cũng đang xem xét lại Danh mục hài hoà biểu thuế quan của các nước ASEAN 1/2007 để xây dựng AHTN 2012, sau đó tổ chức hải quan thế giới sẽ áp dụng theo những sửa đổi, bổ sung của Hệ thống Hài hoà mô tả và mã số hàng hoá (HS) phiên bản năm 2007 cho HS 2012. Cục hải quan ASEAN còn thông qua hiến chương khách hàng như một cam kết về quản trị hiệu quả.
  • Bản kế hoạch hoàn thiện và phát triển nguồn nhân lực hải quan cũng được thông qua sẽ hỗ trợ cung cấp dịch vụ một cách tốt hơn.
  • Hướng dẫn xác định trị giá hải quan, mô hình chế xuất hàng hóa ASEAN, kiểm toán sau thông quan hàng hóa đã được các quốc gia thành viên phát triển và áp dụng.
  • Tăng cường nỗ lực trong việc củng cố kết nối khu vực và hoạt hóa hệ thống quá cảnh hải quan ASEAN theo hiệp định khung ASEAN về lợi thế hàng hóa quá cảnh, đồng thời  nghị định thư thứ 7 về hệ thống quá cảnh hải quan ASEAN theo hiệp định này được mong đợi sẽ ký kết vào năm 2012.
  • Tổng cục hải quan ASEAN ngày càng đóng vai trò tích cực trong việc đẩy mạnh hoạt động của chính sách một cửa trong nước và chính sách một cửa ASEAN, việc này sẽ đặt nền móng cho mối quan hệ chung giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp cũng như các nhà hoạt động kinh tế khi thông quan hải quan hàng hóa.
  • Cục hải quan ASEAN cũng đã thông qua hướng dẫn quản lý rủi ro hải quan ASEAN trong phiên họp lần thứ 19 giữa các tổng hải quan trưởng ASEAN. Văn bản này hướng dẫn các nước thành viên thực hiện thông quan hải quan một cách dễ dàng và tuân thủ quy định cũng như luật pháp lien quan khác.

1.3.2.   Định hướng trong tương lai

ASEAN sẽ tiếp tục công cuộc hiện đại hóa thủ tục hải quan sao cho phù hợp với bản kế hoạch hành động của cộng đồng kinh tế ASEAN. Thực hiện các điều khoản của hiệp định hải quan và hiệp định tối ưu hóa ATIGA trong ASEAN sẽ là nhân tố hết sức quan trọng trong quá trình thực hiện dòng chu chuyển hàng hóa tự do trong AEC.

1.4.   Cơ chế một cửa ASEAN (ASW)

Cơ chế một cửa là yếu tố quan trọng trong kế hoạch hành động ASEAN trong tiến trình thực hiện hóa AEC vào năm 2015. Khi ASW hoạt động với đầy đủ chức năng, lợi thế thương mại và dòng chu chuyển hàng hóa trong khu vực sẽ được cải thiện đáng kể bằng cách áp dụng cơ chế trao đổi dữ liệu điện tử về hàng hóa thông quan trong ASEAN (AMS). Cơ chế một cửa quốc gia (NSWs) sẽ liên kết với nhau thông qua ASW cho phép các doanh nghiệp nộp tất cả các văn bản giấy tờ liên quan tới hoạt động thương mại về cùng một nơi và cũng chính các cơ quan chuyên trách trong ASEAN sẽ xem xét và đưa ra quyết định ở chính nơi mà doanh nghiệp làm thủ tục giấy tờ.

Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan đã và đang hoạt hóa cơ chế NSWs ở các mức độ khác nhau. Trong AMS, các doanh nghiệp, các ngành công nghiệp ngày càng tận dụng NSWs để nộp và tiếp cận các mẫu tờ khai hải quan khác nhau, đồng thời để hoàn thành nghĩa vụ pháp lý của mình. Campuchia, Lao, Myanmar và Việt Nam hiện đang trong pha đầu tiên của quá trình phát triển này và cũng đang thực hiện các ứng dụng hải quan điện tử bao gồm có việc nộp giấy tờ, chọn lọc, thanh toán thuế và các biên lai thuế. Gần đây, Lào và Việt Nam cũng đạt được những đổi mới quan trọng trọng trong việc triển khai NSW.

Trong năm 2010, ASEAN đã thông qua mô hình dữ liệu ASEAN (ADM), đây là mô hình hữu ích, hòa hợp dữ liệu của 13 mẫu khác nhau hiện đang được sử dụng trong các giao dịch thương mại trong ASEAN và cho phép AMS sử dụng một ngôn ngữ chung để trao đổi dữ liệu điện tử. AMS hiện đang cập nhật mô hình dữ liệu của mình dựa vào mô hình dữ liệu cập nhật nhất của tổ chức hải quan thế giới.

Brunei Darussalam, Indonesia, Malaysia và Philippines hiện đã thành công trong việc trao đổi dữ liệu điện tử ATIGA trên mẫu D trong khu vực. Qua đó, các dữ liệu trực tuyến cũng sẽ được trao đổi giữa Malaysia và Indonesia, cho phép quá trình thông quan diễn ra nhanh hơn với việc sử dụng các mẫu điện tử thay vì mẫu trên giấy.

ASEAN cũng đã phát triển các ứng dụng phần mềm phục vụ quá trình xem xét các tờ khai hải quan trong ASEAN (ACDD), theo đó các tờ khai xuất khẩu sẽ được trao đổi giữa các cơ quan hải quan của các nước khiến cho việc thông quan dễ dàng hơn.

Các nước ASEAN đã đầu tư đáng kể công sức và nhân lực thiết lập ASW và đang bắt tay thiết lập cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) cần thiết cũng như các cơ chế pháp lý phù hợp để trao đổi dữ liệu điện tử qua ASW. Hạ tầng ICT và một khung pháp lý tin cậy, an toàn sẽ tạo cơ sở cho hoạt động tương tác pháp lý và kỹ thuật giữa các nước thành viên. AMS đã ký một biên bản ghi nhớ về việc thực hiện dự án hải quan một cửa ASEAN trong năm 2011 cho phép các nước thành viên tham gia và thử nghiệm cơ chế ASW này.

Các nước thành viên ASEAN hiện cũng đang xem xét một số vấn đề quan trọng của ASW như: quá trình kinh doanh, hòa hợp dữ liệu, tính an toàn và ổn định của hệ thống.

Mối liên hệ đầu tiên giữa các nhà hoạt động kinh tế với cộng đồng kinh doanh thương mại thực sự quan trọng vì chính họ sẽ là những thành phần triển khai cơ chế ASW này. Cũng trong bối cảnh đó và trong bước tiếp theo của quá trình thực hiện, các thành viên ASEAN nhất trí thực hiện theo sự tư vấn của khu vực tư nhân và phát triển một chương trình làm việc gắn kết với chính khu vực tư nhân này.

1.5.   Thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau trong ASEAN

Thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau (MRAs) là thỏa thuận giữa hai hoặc nhiều bên cùng thừa nhận hoặc chấp nhận các nhân tố đánh giá tiêu chuẩn hàng hóa. Thỏa thuận này góp phần làm giảm yêu cầu một sản phẩm phải trải qua nhiều quá trình kiểm tra khác nhau để có thể bán ra ngoài thị trường hoặc sử dụng tại các quốc gia ASEAN khác nhau. MRAs cũng góp phần làm giảm chi phí kiểm tra báo cáo, đồng thời nâng cao độ tin cậy của các sản phẩm gia nhập thị trường. Người tiêu dùng cũng được đảm bảo hơn với chất lượng hàng hóa, các loại hàng hóa này đã được kiểm chứng theo đúng những quy định của MRAs.

Hiệp định khung ASEAN về thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau được ký kết năm 1998 là cơ sở để các nước thành viên thông qua MRAs cho các khu vực kinh tế khác nhau. MRAs được coi là thỏa thuận ở cấp quốc gia áp dụng đối với các sản phẩm từ các quốc gia đó.

Tính đến thời điểm hiện tại, ASEAN đã có hai bộ MRAs chuyên ngành áp dụng cho ngành điện, điện tử và ngành dược.

MRAs trong ngành điện, điện tử được ký kết năm 2002 áp dụng cho các trang thiết bị điện, điện tử có hiệu điện thế thấp hoặc chạy bằng pin. Hiện tại có 17 phòng thí nghiệm và ba cơ quan cấp giấy chứng nhận được áp dụng MRAs. Theo MRA ngành này, bất kỳ thiết bị điện và điện tử nào cũng sẽ được kiểm chứng và cấp chứng nhận của các cơ quan hoặc phòng thí nghiệm nói trên và được chấp nhận rộng rãi đáp ứng được các yêu cầu quy định của các nước thành viên ASEAN.

Thỏa thuận thừa nhận theo ngành cho hoạt động sản xuất hàng hóa (GMP) áp dụng cho hoạt động sản xuất dược phẩm được ký kết năm 2009 đòi hỏi phải thừa nhận giấy chứng nhận hoặc báo cáo khảo sát GMP do các cơ quan khảo sát được chấp nhận trong ASEAN phụ trách cấp theo phạm vi của MRAs.

MRAs cho các sản phẩm nông nghiệp và công nghiệp ô tô đang được triển khai và kỳ vọng được chấp thuận vào năm 2012.

1.6.   Hòa hợp các tiêu chuẩn và quy định kỹ thuật

Sự khác nhau giữa các tiêu chuẩn sản phẩm quốc gia thường gây trở ngại cho hoạt động thương mại. Kinh doanh trong AEC đòi hỏi phải có sự hòa hợp các tiêu chuẩn và quy định kỹ thuật cũng như sự thừa nhận các báo cáo và chứng nhận kiểm định của nhau.

Các tiêu chuẩn khác nhau hoặc các quy định kỹ thuật thừa thãi sẽ trở thành chướng ngại vật rất lớn đối với người sản xuất cũng như người xuất khẩu. Việc hòa hợp tiêu chuẩn, quy định kỹ thuật và hợp lý hóa các quy trình thẩm định sẽ góp phần quan trọng trong công tác lợi thế hóa thương mại ngành.

ASEAN cũng đang phát triển bộ quy tắc áp dụng cơ chế nhận biết, cơ chế này sẽ chỉ ra liệu một sản phẩm có đáp ứng đúng các quy định kỹ thuật hòa hợp của ASEAN hay không. Bộ quy tắc nói trên sẽ cho thấy các sản phẩm có đáp ứng được yêu cầu hòa hợp của ASEAN hay không.

1.6.1.   Tuân thủ các tiêu chuẩn và thực tiễn quốc tế

Phương pháp chuẩn bị, điều chỉnh hoặc ứng dụng các tiêu chuẩn, quy định kỹ thuật cũng như mức độ phù hợp đều căn cứ vào tiêu chuẩn và thực tiễn quốc tế, bao gồm việc tuân thủ tối đa các tiêu chuẩn và thực tiễn quốc tế cùng với các nghĩa vụ được nêu trong hiệp định rào cản kỹ thuật thương mại (TBT) trừ trường hợp có lý do khác.

Chính sách hướng dẫn thực hiện tiêu chuẩn và mức độ phù hợp trong ASEAN được thông qua vào năm 2005 đã đưa ra các nguyên tắc hướng dẫn thực hiện cho các nước thành viên có các ngành nghề kinh doanh trong lĩnh vực liên quan và cả trong các lĩnh vực không liên quan.

Hướng dẫn thực hiện quản lý hàng hóa ASEAN giải thích đầy đủ cho các nhà quản lý, hỗ trợ họ chuẩn bị và thông qua các chương trình quản lý hiệu quả, nâng cao tính minh bạch và nhất quán của các quy định kỹ thuật, giảm thiểu các rào cản pháp lý trong thương mại.

1.6.2.   Hòa hợp các tiêu chuẩn

Trong năm 1997, việc hòa hợp quản lý được bắt đầu với 20 sản phẩm ưu tiên. Kết quả cho thấy 58 tiêu chuẩn áp dụng cho các trang thiết bị điện và 3 tiêu chuẩn áp dụng cho các sản phẩm từ cao su đã được hòa hợp. Quy trình trên cũng được áp dụng tương tự đối với các sản phẩm trong ngành dược.

Việc hòa hợp quản lý trong các ngành ưu tiên hội nhập đang được triển khai, bao gồm các sản phẩm nông nghiệp, mỹ phẩm, ngư nghiệp, dược phẩm, các sản phẩm từ cao su, các sản phẩm từ gỗ, ô tô, xây dựng, dụng cụ y tế, y học cổ truyền và các ngành hỗ trợ chăm sóc sức khỏe.

1.6.3.   Hòa hợp các quy định kỹ thuật

ASEAN đã hợp nhất cách quản lý kỹ thuật cho ngành mỹ phẩm (theo hiệp định hòa hợp quản lý mỹ phẩm ASEAN ký năm 2003) và ngành công nghiệp điện, điện tử (theo hiệp định hòa hợp quản lý trang thiết bị điện và điện tử ASEAN) ký năm 2005.

Việc hòa hợp quản lý kỹ thuật đối với các ngành sản xuất sản phẩm nông nghiệp, ô tô, dụng cụ y tế, ngành y học cổ truyền và hỗ trợ chăm sóc sức khỏe cũng đang được thực hiện.

1.7.   Đảm bảo tính an toàn của dược phẩm trong ASEAN

Năm 2009, các bộ trưởng ASEAN đã ký kết thỏa ước thừa nhận lẫn nhau theo ngành (MRA) cho hoạt động sản xuất hàng hóa (GMP) và công tác giám sát hoạt động sản xuất dược phẩm tại hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 14 diễn ra tại Pattaya, Thái Lan.

MRA cho GMP đòi hỏi phải có sự thừa nhận lẫn nhau giữa các nước trong khu vực đối với giấy chứng nhận GMP và các báo cáo kiểm soát. Những chứng chỉ, báo cáo này được sử dụng làm cơ sở cho hoạt động quản lý như phê chuẩn hoặc cấp phép sản xuất, hỗ trợ đánh giá mức độ phù hợp của các tiêu chuẩn sau khi đưa sản phẩm vào thị trường, cung cấp thông tin liên quan tới các cơ sở phục vụ sản xuất như phòng thí nghiệm tiêu chuẩn bên ngoài hoặc nội bộ. Báo cáo cũng cung cấp các thông tin về các công ty dược phẩm, công thức liều lượng được sử dụng và kiểm chứng liệu các nhà sản xuất có đáp ứng đúng theo quy định GMP hay không.

Theo MRA các cơ sở sản xuất các sản phẩm y tế phải đảm bảo được cấp phép hoạt động sản xuất, đồng thời được phép đặt nghi vấn đối với bất kỳ hoạt động sản xuất nào. Các cơ sở này sẽ được kiểm tra thường xuyên để đảm bảo tuân theo các tiêu chuẩn GMP đồng thời cũng để đảm bảo thực hiện theo hướng dẫn hợp tác giám sát dược phẩm (PIC/S) với GMP cho các sản phẩm y tế hoặc mã GMP tương đương đảm bảo nghĩa vụ theo MRA.

Kết quả thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau trong ngành dược mang lại nhiều lợi ích. Việc thực hiện theo MRA góp phần nâng cao tính an toàn, chất lượng cũng như hiệu quả của các sản phẩm y tế được sản xuất trong ASEAN, đảm bảo các sản phẩm này sẽ liên tục được sản xuất và kiểm soát theo những nguyên tắc sản xuất hàng hóa được thừa nhận từ trước và theo những quy chuẩn chất lượng trong ASEAN. Bên cạnh đó, MRA mang đến lợi ích cho cả nhà sản xuất và người tiêu dùng trong ngành y tế. Chi phí kinh doanh đối với các nhà sản xuất sẽ giảm đáng kể vì họ sẽ không phải thực hiện các quy trình kiểm định và chứng nhận sản phẩm. Người tiêu dùng cũng có lợi hơn từ sự đảm bảo chất lượng, tính an toàn và hiệu quả của các sản phẩm y tế mà họ sử dụng.