Hợp tác phát triển cơ sở hạ tầng

06/11/2015 | 00:00:00

1.1.   Hợp tác ASEAN trong ngành giao thông vận tải

Hợp tác ASEAN trong lĩnh vực giao thông vận tải nhằm mục đích phát triển hệ thống giao thông vận tải hội nhập, hiệu quả và an toàn, hỗ trợ công cuộc thực hiện hóa AEC vào năm 2015.

Kết nối toàn khu vực thông qua đẩy mạnh khả năng cạnh tranh và thu hút đầu tư, thúc đẩy dòng chu chuyển hàng hóa và dịch vụ cũng như nguồn lực con người. Hội nhập với nền kinh tế thế giới sẽ là mục tiêu tiên quyết trong hợp tác về giao thông vận tải nội khối ASEAN trong giai đoạn 2011-2015.

Theo kế hoạch chiến lược giao thông vận tải ASEAN giai đoạn 2011-2015 (cũng chính là kế hoạch hành động Brunei), các nước thành viên sẽ tiếp tục thực hiện các chương trình trrong bản kế hoạch đối với vận tải đường bộ, vận tải hàng không, vận tải biển, và các phương tiện vận tải nhằm mục đích tạo ra một hệ thống giao thông vận tải trong khu vực, trong đó hệ thống này sẽ thúc đẩy sự hợp tác kinh tế trong nội khối ASEAN.

1.     Vận tải hàng không: Sẽ tạo ra một thị trường hàng không thống nhất ASEAN (ASAM), thúc đẩy ngành hàng không thân thiện với môi trường, thúc đẩy hợp tác với đối tác tạo ra sự liên kết lớn mạnh hơn.

2.     Vận tải đường bộ: tạo ra một hệ thống vận tải đường bộ hội nhập khu vực và thân thiện với môi trường, không những thế còn hiệu quả và an toàn. Hệ thống này sẽ thúc đẩy thương mại và du lịch giữa ASEAN với các nước lân cận.

3.     Vận tải biển: thiết lập mạng lưới vận tải biển hội nhập, cạnh tranh và liền mạch, chú trọng đến phát triển an ninh và an toàn vận tải biển, hệ thống cảng biển thân thiện với môi trường và dễ sử dụng.

4.     Thuận lợi hóa vận tải: Thiết lập hệ thống giao thông vận tải đa phương thức, có khả năng cạnh tranh toàn cầu, hiệu quả và hội nhập, thúc đẩy kết nối trong khu vực cũng như kết nối toàn cầu, theo đuổi logistic xanh, bảo vệ môi trường trên toàn thế giới

Để thúc đẩy dòng chu chuyển hàng hóa liền mạch trong khu vực, các nước thành viên ASEAN đã cam kết thực hiện hiệp ước thuận lợi hóa vận tải như sau:

- Hiệp định khung ASEAN tạo thuận lợi cho hàng hóa quá cảnh (AFAFGIT)
- Hiệp định khung ASEAN về vận tải đa phương thức (AFAMT)
- Hiệp định khung ASEAN tạo thuận lợi cho vận tải liên quốc gia (AFAFIST)

Hiệp định tạo thuận lợi cho ngành vận tải hướng tới mục tiêu đơn giản hóa và hài hòa các văn bản giấy tờ cũng như các thủ tục thương mại vận tải, hướng dẫn và yêu cầu nhất quán đối với việc đăng ký hoạt động vận tải cũng như những người hoạt động trong lĩnh vực vận tải đa phương thức, thúc đẩy áp dụng ICT cho vận tải hang hóa liền mạch

Ban điều phối Vận tải Quá cảnh ASEAN (TTCB) là cơ quan chính chịu trách nhiệm điều phối và thực hiện tổng thể các hiệp định tạo thuận lợi cho hoạt động vận tải. Để tối đa hóa lợi ích của hệ thống vận tải và quá cảnh hội nhập, vốn là điều sẽ khiến cho dòng chu chuyển hàng hóa và phương tiện qua biên giới các nước ASEAN tự do hơn, các nước thành viên ASEAN hiện đang thực hiên các bước cần thiết để đáp ứng yêu cầu cũng như điều khoản của các hiệp định tạo thuận lợi cho ngành vận tải.

Đối với dịch vụ vận chuyển hành khách bằng đường hàng không, các thỏa thuận về quyền vận chuyển tự do không hạn chế thứ 3, thứ 4, và thứ 5 từ hoặc tới bất kỳ điểm nào với các cảng hàng không quốc tế trong khu vực và giữa các khu vực trong ASEAN, giữa thủ đô các nước ASEAN với nhau đang được thực hiện. Các quyền tự do tương tự cũng được mở rộng ra lĩnh vực dịch vụ tại thành phố ở các nước ASEAN thông qua Hiệp định Đa phương ASEAN về tự do hóa hoàn toàn dịch vụ chuyên chở hành khách bằng đường hàng không (MAFLPAS) được thông qua năm 2010. Các nước thành viên ASEAN cũng cam kết thực hiện tự do hóa hoàn toàn dịch vụ chuyên chở hàng hóa bằng đường hàng không, quyền tự do đầy đủ thứ 3, thứ 4 và thứ 5 trong dịch vụ vận chuyển hàng hóa quốc tế giữa bất kỳ nơi nào với càng hàng không quốc tế trong khu vực ASEAN. Công việc vẫn đang được tiến hành nhằm phát triển một khuôn khổ để thực hiện hóa thị trường hàng không thống nhất ASEAN.

Các vòng đàm phán của ASEAN với Trung Quốc về quyền vận tải tự do thứ 3, thứ 4 đã kết thúc và sau đó là các vòng đàm phán với Ấn Độ và Hàn Quốc.

Để đạt được mục tiêu là một hệ thống vận tải biển cạnh tranh, hiệu quả và hội nhập, ASEAN sẽ phải đổi mới để tạo lập một thị trường vận tải biển đơn nhất (ASSM) thông qua việc thúc đẩy hình thành chiến lược cơ bản ASSM, và phát triển khuôn khổ tương ứng cho việc thực hiện chiến lược. Thêm vào đó, các nước thành viên cũng phải nâng cao năng lực của 47 cảng biển được chỉ định trong mạng lưới cảng biển ASEAN.

Để thuận lợi hóa vận tải đường bộ trong khu vực, việc hoàn thiện hệ thống đường cao tốc ASEAN và dự án Đường sắt Singapore-Côn Minh (SKRL) đã trở thành vấn đề được ưu tiên trong hợp tác vận tải ASEAN. Hai dự án này thể hiện tầm nhìn đối với ngành vận tải ASEAN và trọng tâm của ngành logistic. SKRL là dự án chủ chốt của chương trình Hợp tác ASEAN về phát triển tiểu vùng Mekong (AMBDC), trong đó có tuyến đường chính chạy qua Singapore-Malaysia-Thái Lan-Campuchia-Việt Nam và Trung Quốc (Côn Minh), và các tuyến đường phụ Thái Lan-Myanmar và Thái Lan-Laos. Dự án này đòi hỏi phải xây dựng hệ thống nhà ga và cơ sở vật chất liên quan.

AHN gồm 23 tuyến đường chỉ định với tổng chiều dài là 38,400 km nằm trong khu vực ASEAN, nối liền các thủ đô, cảng biển, sân bay với các khu vực có tiềm năng du lịch và đầu tư cao. AHN cũng tạo ra nhiều cơ hội hơn cho người nghèo và các cộng đồng ở vùng xa, đồng thời cũng trở thành cơ sở hạ tầng thiết yếu, hỗ trợ cho hoạt động logistic trong chương trình kết nối ASEAN. Đẩy mạnh thực hiện dự án AHN, đặc biệt là hoàn thành các phần còn thiếu của dự án này đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc nâng cao chất lượng cơ sở hạ tầng đường xá tại các nước thành viên ASEAN.

 Hiện tại, ưu tiên hàng đầu đang được dành cho việc nâng cấp phần “dưới chuẩn III” của các tuyến vận tải quá cảnh (TTR) với tổng chiều dài lên đến 2,000 km đi qua Indonesia (AH-25), Lào (AH-12 và AH-15), và Myanmar (AH-1, AH-2 và AH-3) trước năm 2012. Ưu tiên thứ hai là dành cho việc xây dựng các tuyến đường kết nối ở Myanmar (201 km), đồng thời nâng cấp phần “dưới chuẩn III” tại Indonesia (AH-150 và AH-151), Lào (AH-131 và AH-132), Malaysia (AH-150), Myanmar (AH-111 và AH-112) và Việt Nam (AH-12 và AH-132) với tổng chiều dài lên đến 4,537 km. Các nước thành viên ASEAN mong đợi sẽ hoàn thành các mục tiêu đã đề ra trong MU về dự án AHN, điều này sẽ khiến cho AHN được nâng cấp lên ít nhất thành chuẩn II vào năm 2020.

1.2.   Hợp tác trong ngành Công nghệ thông tin và viễn thông (ICT)

Hợp tác ASEAN trong lĩnh vực công nghệ truyền thông và thông tin đã được tăng cường từ những năm 2000 bằng việc ký kết hiệp định khung e-ASEAN. Hiệp định này đặt ra mục tiêu hợp tác khu vực đối với vấn đề ICT để (a) phát triển, đẩy mạnh và tăng cường khả năng cạnh tranh trong lĩnh vực ICT trong ASEAN; (b) làm giảm sự phân chia số trong nội bộ các nước ASEAN cũng như giữa các nước thành viên ASEAN; (c) thúc đẩy hợp tác giữa khu vực kinh tế tư nhân và nhà nước trong quá trình thực hiện hóa e-ASEAN và (d) thúc đẩy tự do hóa thương mại với các sản phẩm ICT, dịch vụ và đầu tư ICT, hỗ trợ cho mục tiêu e-ASEAN.

1.2.1.   Trọng tâm và phát triển – Kế hoạch tổng thể về phát triển ICT khu vực ASEAN đến 2015

Để thúc đẩy phát triển ICT đối với việc thành lập AEC vào năm 2015, Kế hoạch tổng thể về phát triển ICT khu vực ASEAN đến 2015 (AIM2015) đã được thông qua vào tháng 1 năm 2011 tại Kuala Lumpur, Malaysia. Kế hoạch này sẽ cung cấp hướng dẫn chiến lược cho việc kinh doanh ICT trong khu vực, kết nối công nghệ số trong ASEAN, nâng cao khả năng cạnh tranh trong lĩnh vực ICT.

Theo AIM2015, các nước thành viên ASEAN sẽ tập trung để đạt được 6 mục tiêu chiến lược đã đề ra, cụ thể là: (i) Chuyển đổi nền kinh tế (ii) Nâng cao vai trò của yếu tố con người (iii) Phát huy sáng tạo (iv) Phát triển hạ tầng (v) Phát triển nguồn nhân lực (vi) Thu hẹp khoảng cách số.

Để đạt được những mục tiêu chiến lược trên, một bản kế hoạch hành động với cách tiếp cận chiến lược thực hiện đúng lộ trình của AIM2015 đã được thông qua. Hội nghị Quan chức cấp cao ASEAN về Viễn thông và CNTT (TELSOM) và Hội nghị các nhà quản lý viễn thông ASEAN (ATRC) đã xác định các cơ chế cần thiết để thúc đẩy hợp tác giữa các nhà quản lý, nhà hoạch định chính sách, cũng như những người hoạt động trong lĩnh vực này trong quá trình thực hiện AIM2015

Để nâng cao địa vị của ASEAN với tư cách là nơi tập trung của một ICT toàn diện và vững chắc, sáng kiến thành lập trung tâm Internet ASEAN đang được thảo luận để thúc đẩy kết nối liên khu vực, giảm thiểu thời gian chờ và chi phí internet. Tên miền cho khu vực “.asean” được trông đợi sẽ mang lại sự nhận diện to lớn cho khu vực cũng như để tạo ra một cơ sở sản xuất và thị trường thống nhất AEC.

Các dự án quan trọng khác cũng đang được phát triển để thúc đẩy thương mại điện tử, thiết lập khuôn khổ tương kết của các cơ quan chứng nhận (CA – CA ) trong ASEAN, cắt giảm chi phí chuyển vùng quốc tế của các thuê bao di động trong khu vực.

Quỹ ASEAN ICT sẽ tiếp tục được tận dụng để hỗ trợ cho việc thực hiện AIM2015, khuyến khích huy động các nguồn lực từ các đối tác đối thoại, các tổ chức quốc tế cũng như trong ngành ICT.

1.2.2.   Các chính sách và dự án kết nối ICT

Khu vực ICT trong ASEAN cam kết thúc đẩy phát triển lực lượng ICT cũng như năng lực cạnh tranh của thị trường ICT và kinh doanh trực tuyến. Để thúc đẩy vai trò của ASEAN với tư cách là khu vực quan trọng trong lĩnh vực ICT toàn cầu, sự hợp tác của ICT với các đối tác đối thoại như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc (ASEAN+3), liên minh Châu Âu EU, Ấn Độ và Liên minh viễn thông quốc tế ngày càng được tăng cường.

Các chương trình liên kết với ASEAN+3 cũng đã và đang được chú trọng, đặc biệt là các vấn đề liên quan tới nguồn nhân lực và hệ thống viễn thông tại các khu vực nông thôn.

Các cuộc thảo luận vẫn được tiến hành để tăng cường giải thưởng ICT ASEAN và diễn đàn các nhà lãnh đạo ASEAN, thúc đẩy áp dụng ICT vào các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Hành lang băng rộng ASEAN và các tiêu chuẩn chung về hợp tác an ninh mạng góp phần làm giảm chi phí chuyển vùng quốc tế của các thuê bao di động. Hợp tác giữa khu vực nhà nước và khu vực tư nhân để phát triển ngành ICT trong khu vực đang được chú trọng ở nhiều cấp độ khác nhau, từ cấp độ dự án cho tới cấp độ chính sách và các chương trình tư vấn pháp lý.

1.3.   Vấn đề đảm bảo an ninh năng lượng

1.3.1.   Mục tiêu và chiến lược tổng thể

Mục tiêu tổng thể của hội nhập năng lượng ASEAN là thúc đẩy an ninh và ổn định năng lượng trong khu vực ASEAN, hướng sự quan tâm của cộng đồng vào vấn đề chăm sóc sức khỏe, an ninh và môi trường. Hợp tác năng lượng ASEAN hiện đang được thực hiện theo kế hoạch hành động ASEAN về hợp tác năng lượng giai đoạn 2010-2015 (APAEC), tập trung vào 7 lĩnh vực chính là

(i) Dự án kết nối lưới điện ASEAN (APG) (ii) Dự án liên kết đường ống dẫn khí ASEAN (TAGP);

(iii)  Công nghệ chế biến than sạch; (iv) năng lượng tái chế; (v) bảo tồn hiệu quả năng lượng; (vi) hoạch định và lập chính sách cho năng lượng trong khu vực; (vii) năng lượng hạt nhân thông thường.

1.3.2.   Trọng tâm và phát triển

Các nước thành viên ASEAN hiện đang tham gia tích cực vào quá trình hội nhập bảo toàn hiệu quả năng lượng (EE&C) và phát triển các nguồn năng lượng tái chế (RE) trong khu vực. Các dự án cần phải được thực hiện để nâng cao năng lực và đẩy mạnh tham gia của khu vực tư nhân đối với các chương trình EE&C và RE trong khu vực, đồng thời mở rộng thị trường cho EE và các sản phẩm RE.

APAEC giai đoạn 2010-2015 đã đặt mục tiêu cho ASEAN cắt giảm lãng phí năng lượng trong khu vực ít nhất 8% vào năm 2015 (căn cứ theo mức của năm 2005) và 15% cho mục tiêu năng lượng tái chế so với tổng công suất thiết kế vào năm 2015. Để đạt được mục tiêu này, các nước thành viên đồng ý phát triển dự án chiến lược và các hoạt động liên kết trong khu vực như dự án thúc đẩy bảo toàn hiệu quả năng lượng (PROMEEC), Chương trình Quản lý Năng lượng ASEAN (AEMAS). Những dự án này là để nâng cao năng lực của đội ngũ nhân sự cũng như của các cơ quan chuyên trách – tập trung vào hướng dẫn đánh giá mức độ lãng phí năng lượng, chính sách EE&C, kiểm toán năng lượng, các tiêu chuẩn và dán nhãn – thúc đẩy hài hòa hóa quy trình kiểm tra năng lượng trong ASEAN.

  • Dự án kết nối lưới điện ASEAN (APG), ước tính khoảng 5.9 tỷ USD, hiện đang được thực hiện cùng với 4 dự án gắn kết khác, 11 dự án bổ sung đang được lên kế hoạch trước năm 2015. APG đã hoàn thành các kết nối năng lượng song phương tại Udon Thani (Thái Lan) – Nabong (Lào), and (ii) Lào – Campuchia. Những dự án này dự định sẽ hoàn thành vào năm 2012.
  • Cùng với việc hoàn thiện kế hoạch nghiên cứu kết nối tổng thể ASEAN II, ASEAN cũng đang tiến hành đưa ra các gói lựa chọn năng lượng khác, bao gồm thủy điên, nhiệt điện sạch, và năng lượng hạt nhân để đáp ứng nhu cầu điện trong tương lai.

Các nước thành viên cũng tăng cường hoạt động thương mại kinh doanh than đá trong nội khối ASEAN và thúc đẩy công nghệ sản xuất than sạch. Hiệp định an ninh than đá ASEAN và hiệp định sử dụng và kinh doanh than đá đang được xem xét để đảm bảo nguồn cung than đá trong khu vực.

Dự án liên kết đường ống dẫn khí ASEAN (TAGP), trị giá 7 tỉ USD để liên kết hệ thống đường ống dẫn khí ga trong khu vực và vận chuyển khí ga giữa các nước trong ASEAN đã hoàn thành dự án 8 đường ống dẫn khí ga song phương và 8 đường ống này đã đi vào hoạt động.

Mạng lưới hợp tác năng lượng hạt nhân (NEC-SSN) đã được thiết lập để thúc đẩy hợp tác giữa các nước thành viên trong ASEAN đối với vấn đề phát triển năng lượng hạt nhân trong khu vực. Mục đích của NEC-SSN là tìm kiếm tính khả thi về mặt kinh tế của năng lượng hạt nhân, khuyến khích trao đổi thông tin cũng như hỗ trợ trong việc thúc đẩy chương trình năng lượng hạt nhân bền vững và an toàn, thúc đẩy sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế và các quốc gia tài trợ.

Để nâng cao vị trí của ASEAN với vai trò là khu vực năng lượng quan trọng, hợp tác năng lượng với các đối tác đối thoại phải trải dài trên nhiều hoạt động, chương trình cũng như dự án khác nhau trong khuôn khổ ASEAN+3 và tiến trình hội nghị thượng đỉnh khu vực đông Á. ASEAN cũng tham gia với vai trò tư vấn chính thức cùng liên minh Châu Âu, Nga và Mỹ để thúc đẩy hợp tác phát triển lĩnh vực năng lượng khu vực. ASEAN cũng tìm kiếm sự hợp tác với các cơ quan và tổ chức quốc tế như viện nghiên cứu kinh tế ASEAN và Đông Á (ERIA), cơ quan năng lượng quốc tế (IEA), ngân hàng phát triển châu á (ADB) để nâng cao năng lực của những người phụ trách vấn đề năng lượng trong ASEAN đồng thời thúc đẩy nguồn năng lượng bền vững và được chấp nhận.

1.4.   Hợp tác trong ngành Du lịch

Du lịch đang là ngành đứng đầu trong ASEAN, không chỉ với ý nghĩa tạo ra và phân phối doanh thu ngoại tệ có giá trị mà còn đóng vai trò thể hiện sự đa dạng và giàu có về mặt văn hóa và con người của khu vực Đông Nam Á. Với vai trò là ngành ưu tiên hội nhập trong AEC, du lịch đã cho thấy tốc độ tăng trưởng 11% trong năm 2010 với tổng lượt khách du lịch quốc tế đến ASEAN đạt 73 triệu lượt. Du lịch nội khối ASEAN cũng là một thị trường tiềm năng chiếm 47% lượt khách du lịch trong năm 2010.

AEC cũng hướng tới thúc đẩy hợp tác du lịch trong khu vực nhằm mục đích: (i) nâng cao lợi thế du lịch hướng tới ASEAN và trong ASEAN; (ii) thúc đẩy hợp tác trong ngành du lịch để nâng cao hiệu quả và cạnh tranh; (iii) cắt giảm đáng kể các hạn chế đối với thương mại du lịch cũng như các dịch vụ trong du lịch; (iv) thiết lập một mạng lưới du lịch và dịch vụ du lịch hội nhập để tối đa hóa các dịch vụ bổ sung hấp dẫn khách du lịch; (v) thúc đẩy phát triển và thúc đẩy ASEAN thành một điểm đến du lịch hấp dẫn; (v) thúc đẩy hỗ trợ lẫn nhau trong phát triển nguồn lực con người, hợp tác phát triển, nâng cấp và mở rộng du lịch cùng các cơ sở vật chất của ngành du lịch cũng như các dịch vụ đi kèm; (vi) tạo điều kiện thích hợp cho khu vực tư nhân và nhà nước cùng hợp tác phát triển du lịch nói chung và du lịch nội khối ASEAN nói riêng, đồng thời đầu tư vào dịch vụ cũng như cơ sở vật chất của ngành du lịch.

1.4.1.   Kế hoạch chiến lược phát triển du lịch ASEAN (ATSP)

Vào tháng 1 năm 2011, bộ trưởng du lịch các nước ASEAN đã thông qua kế hoạch chiến lược phát triển du lịch (ATSP) giai đoạn 2011-2015, tiếp nối lộ trình hội nhập du lịch khu vực (RITS) đã hoàn thành vào năm 2010. Cùng với mục tiêu tổng thể AEC năm 2015, ATSP cũng sẽ thúc đẩy sự phát triển, hội nhập và cạnh tranh của du lịch trong khu vực, cùng lúc tìm hiểu về văn hóa, xã hội cũng như tăng cường lợi thế thương mại trong ASEAN.

Các nước thành viên ASEAN hiện đang phát triển các chiến lược marketing cho hoạt động du lịch ASEAN với mục đích đẩy mạnh và thay đổi các hoạt động trong “chiến dịch đến thăm ASEAN”, đây là chiến dịch biến ASEAN thành một điểm đến du lịch hấp dẫn theo thỏa thuận phát triển du lịch ASEAN được các nhà lãnh đạo ASEAN ký kết năm 2002.

Nhóm xúc tiến du lịch ASEAN (APCT) đã tổ chức hội thảo khách hàng lớn ngành du lịch ở Brisbane, Melbourne và Sydney để xúc tiến các hoạt động du lịch liên kết trong ASEAN. Để mở rộng hơn nữa hoạt động marketing tại các thị trường mục tiêu quan trọng, ASEAN cần phải thành lập APCT tại Mumbai và Dubai trong giai đoạn 2011-2012

1.4.2.   Các tiêu chuẩn du lịch AEC

Để thúc đẩy uy tín của khu vực Nam Á với tư cách là một điểm đến du lịch toàn cầu, ASEAN hiện đang phát triển hệ thống tiêu chuẩn du lịch toàn diện hoàn toàn mới để đẩy mạnh chất lượng du lịch cũng như quá trình cấp chứng nhận cấp khu vực cho các khách sạn, nhà vườn, dịch vụ spa và toilet công cộng.

 Giải thưởng khách sạn xanh 2008 vào 2010 là giải thưởng chứng nhận các khách sạn trong khu vực đủ điều kiện trở thành khách sạn xanh ASEAN. Cùng với ATSP, các nước thành viên ASEAN hiện đang xem xét các tiêu chuẩn, yêu cầu cũng như quá trình cấp chứng chỉ khách sạn xanh ASEAN.

Để thúc đẩy tính linh động và công bằng trong phương pháp đánh giá của các chuyên gia du lịch trong ASEAN, các nước thành viên đã bắt tay vào thực hiện thỏa ước thừa nhận lẫn nhau trong ASEAN (MRA). Đây là kế hoạch thúc đẩy các nước thành viên thực hiện những yêu cầu MRA đối với việc thành lập ban chuyên viên du lịch quốc gia, ban cấp chứng chỉ chuyên viên du lịch, tiêu chuẩn áp dụng với các tài liệu đào tạo hoặc các gói công cụ trong từng nước. Hoạt động đầu tiên chính là gói tiêu chuẩn đánh giá công cụ kiểm soát trang thiết bị của khách sạn dự định được hoàn thành vào tháng 7 năm 2012.