Hội nhập trong lĩnh vực tài chính

06/11/2015 | 00:00:00

1.1.   Hội nhập tài chính trong cộng đồng kinh tế ASEAN

Hội nhập thị trường vốn và thị trường tài chính ASEAN vào năm 2015 được đề cập đến trong bản kế hoạch hành động AEC sẽ tạo ra hệ thống tài chính khu vực thông suốt với cơ chế tài khoản vốn tự do hơn. Các thị trường vốn được liên kết với nhau theo đó sẽ thúc đẩy hoạt động thương mại và đầu tư khu vực.

Như đã được chỉ ra trong tiến trình hội nhập tài chính và tiền tệ trong ASEAN (RIA-fin), hội nhập tài chính ASEAN sẽ được tạo điều kiện, cụ thể như sau: tự do hóa dịch vụ tài chính, tự do hóa tài khoản vốn và phát triển thị trường vốn.

1.1.1.   Tự do hóa dịch vụ tài chính

Tự do hóa nhanh chóng dịch vụ tài chính vào năm 2015 sẽ khiến cho hoạt động thương mại được tự do nhiều hơn thông qua tiếp cận rộng hơn với dịch vụ tài chính. Vào tháng 5 năm 2011, các bộ trưởng tài chính ASEAN đã đi đến vòng đàm phán thứ 5 và sau đó ký kết nghị định thư thực hiện gói cam kết thứ 5 đối với dịch vụ tài chính theo hiệp định khung ASEAN về dịch vụ (AFAS). Sau đó vòng đàm phán thứ 6 được tổ chức với nội dung bàn về việc gia tăng hơn nữa khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính.

1.1.2.   Tự do hóa tài khoản vốn

Việc dỡ bỏ kiểm soát và hạn chế vốn như: xóa bỏ hạn chế đối với các giao dịch trên tài khoản vãng lai, xóa bỏ hạn chế đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài và danh mục đầu tư (dòng vào và dòng ra) sẽ nâng cao lợi thế của dòng chu chuyến vốn tự do trong ASEAN. Những nỗ lực đáng kể đã được thực hiện nhằm nới lỏng hạn chế đối với giao dịch mua bán ngoại tệ, thanh toán cho các giao dịch vô hình và giao dịch chuyển tiền. Các nước thành viên ASEAN đã hoàn thành việc đánh giá và đưa ra quy định đối với sự chu chuyển tự do hơn của các dòng vốn FDI đồng thời cũng bắt đầu thực hiện công tác đánh giá hoạt động đầu tư theo danh mục.

Các quốc gia này cũng đã và đang sửa đổi các điều luật và quy định thúc đẩy hoạt động đầu tư theo danh mục và FDI.

1.1.3.   Sự phát triển của thị trường vốn

Xây dựng cơ sở vật chất dài hạn cho thị trường vốn là để thúc đẩy hợp tác xuyên quốc gia giữa các thị trường vốn trong khu vực. Bản kế hoạch hành động cho thị trường vốn hội nhập đã được xây dựng và phát triển nhằm mục đích nâng cao phương pháp tiếp cận thị trường, kết nối thị trường cũng như khả năng thanh khoản trên thị trường.

Để lấp đầy khoảng cách giữa các thị trường phát triển và các thị trường mới nổi, bản phương pháp tiếp cận theo 2 hướng để phát triển thị trường vốn đã được thông qua. Một nhóm hành động cũng được thành lập với chức năng liên kết các chuyên gia thị trường nhằm mục đích giải quyết các trở ngại khi thiết lập thị trường trái phiếu ASEAN hội nhập.

Các chương trình xây dựng năng lực và hỗ trợ kỹ thuật cho sự phát triển của thị trường vốn cũng được chú trọng nâng cao. Thang chỉ tiêu phát triển thị trường trái phiếu ASEAN được thiết lập đảm bảo tính nhất quán theo thị trường vốn căn cứ vào các tiêu chuẩn cũng như hiệp định khung về hỗ trợ các dự án và hoạt động đầu tư xuyên quốc gia.

Tháng 4 năm 2011, mục tiêu và động lực của thị trường chứng khoán ASEAN đã được đề cập đến trong cuộc họp bộ trưởng tài chính ASEAN lần thứ 15 diễn ra tại Bali, Indonesia, với mục đích thúc đẩy ASEAN trở thành một đối tượng trong liên kết điện tử giữa các thị trường chứng khoán khu vực.

1.1.4.   Hội nhập và ổn định tài chính khu vực Đông Á

ASEAN đang hướng tới mục tiêu hỗ trợ ổn định tài chính tại khu vực Đông Á và khuyến khích hội nhập tài chính sâu hơn với Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc. Muc tiêu này được cụ thể hóa bằng Thỏa thuận đa phương hóa sáng kiến Chiang Mai (CMIM) và thiết lập một thỏa thuận hoán đổi tiền tệ đa biên trị giá 120 tỷ USD vào tháng 3 năm 2010 nhằm hỗ trợ cho các quốc gia gặp khó khăn về thanh khoản.

Sáng kiến thị trường trái phiếu ASEAN (ABMI) được đưa ra năm 2005 thúc đẩy tham gia sâu hơn nữa vào thị trường trái phiếu ASEAN +3 (gồm các nước ASEAN và 3 nước là Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản). Theo lộ trình ABMI, cần phải ưu tiên tăng cường phát hành trái phiếu đáp ứng lượng cầu trên thị trường, thúc đẩy phát triển các cơ chế quản lý và cơ sở hạ tầng cho thị trường trái phiếu. Vào tháng 5 năm 2010, Quỹ Bảo lãnh Tín dụng và Đầu tư (CGIF) đã được lập ra để hỗ trợ cho công tác phát hành trái phiếu doanh nghiệp trong khu vực ASEAN+3.

1.1.5.   Đẩy mạnh công tác kiểm tra giám sát kinh tế trong khu vực

Quy trình giám sát ASEAN đã được thực hiện vào năm 1999, hỗ trợ công cuộc đàm phán chính sách, xem xét lại hoạt động kinh tế cũng như hội nhập kinh tế tài chính trong khu vực. Văn phòng giám sát hội nhập ASEAN (trước đây được gọi là văn phòng kiểm tra giám sát tài chính và kinh tế vĩ mô) chính thức được thành lập vào tháng 5 năm 2010 để nâng cao hiệu quả kiểm tra của văn phòng ASEAN trong công tác giám sát hội nhập kinh tế khu vực, cùng lúc đảm bảo mục tiêu thành lập AEC vào năm 2015.

1.2.   Thỏa thuận đa phương hóa sáng kiến Chiang Mai (CMIM)

Vào tháng 3 năm 2010, Thỏa thuận đa phương hóa sáng kiến Chiang Mai (CMIM) chính thức có hiệu lực sau khi được 5 nước thành viên ASEAN và ASEAN+3 (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc) thông qua.

CMIM – thỏa thuận hoán đổi tiền tệ đa biên trị giá 120 tỷ USD với mục tiêu giải quyết khó khăn về thanh khoản trong ngắn hạn trong khu vực ASEAN cùng với thỏa thuận tài chính quốc tế bổ trợ lần đầu tiên được hình thành vào năm 2000 tại hội nghị bộ trưởng tài chính ASEAN+3 diễn ra tại Chiang Mai, Thái Lan. Sáng kiến này đưa ra hướng dẫn về thanh khoản cụ thể được đề cập đến trong thỏa thuận hoán đổi ASEAN (ASA), hợp đồng hoán đổi tiền tệ song phương (BSAs) tại ASEAN và ASEAN+3.

Để thúc đẩy hiệu quả của BSAs, các bộ trưởng tài chính ASEAN+3 đã nhất trí hình thành hiệp định khung hỗ trợ thanh khoản hay nói cách khác chính là hiệp định đa phương hóa CMI vào năm 2006. Vào năm 2007, các bộ trưởng đã quyết định CMIM nên tồn tại dưới dạng một hợp đồng thỏa thuận quản lý góp vốn.

1.2.1.   Tư cách thành viên và các đóng góp

Các thành viên CMIM, gồm có các nước ASEAN và các nước ASEAN +3 (gồm cả Hong Kong). Trong thỏa thuận hoán đổi tiền tệ đa biên trị giá 120 tỷ USD, các nước ASEAN đóng góp 24 tỷ USD, còn lại 96 tỷ USD đến từ các nước ASEAN +3.

Theo hợp đồng góp vốn, các nước thành viên ASEAN sẽ đóng góp vào thỏa ước dưới dạng một thư cam kết. Mỗi nước thành viên sẽ phải chuyển số vốn góp chiếu lệ theo các cam kết cho bên đối tác sau khi các yêu cầu được chấp nhận. Trên thực tế, nếu không có bất cứ yêu cầu vốn từ quốc gia nào khác thì mỗi quốc gia sẽ tự quản lý nguồn vốn của mình.

1.2.2.   Các điều kiện và điều khoản của thỏa ước hoán đổi tiền tệ

Tất cả các bên tham gia vào CMIM đều có thể tiếp cận thỏa ước này. Lượng tiền tối đa mà mỗi nước có thể rút là cấp số nhân của khoản vốn góp. 20% của số tiền này có thể được rút ra mà không bị ràng buộc bởi bất kỳ thỏa thuận nào với Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF). Số tiền còn lại trong quỹ có thể được rút ra nếu IMF có một dự án hoặc sẽ có một dự án khả thi. Mỗi thỏa thuận hoán đổi tiền tệ sẽ đáo hạn trong vòng 90 ngày sau ngày rút tiền và có thể được gia hạn tới 7 lần. Để rút tiền mà không cần phải thông qua IMF, hợp đồng hoán đổi này phải là hợp đồng có thể gia hạn được tối đa 3 lần. Việc đi vay phải thực hiện bằng đồng đô la và phải chịu một khoản tiền lãi nhất định (áp dụng theo lãi suất liên ngân hàng London hoặc LIBOR và cộng thêm một khoản phí).

1.2.3.   Thủ tục hoạt hóa hợp đồng hoán đổi và quá trình ra quyết định

Theo CMIM, mỗi bên có nhu cầu đều có thể vay vốn từ các nước thành viên trong thỏa ước hoán đổi (bao gòm các nước ASEAN và ASEAN +3). Việc chấp nhận và giải ngân được thực hiện trong vòng tối đa 2 tuần sau khi nhận được yêu cầu vay vốn. Khi yêu cầu này được chấp nhận, các nước tham gia vào thỏa ước hoán đổi phải chuyển tiền tới tài khoản của nước yêu cầu, và đây cũng là nước sau đó phải chuyển một khoản tiền tương tự bằng đồng nội tệ vào tài khoản của các nước tham gia khác. Tất cả quyết định liên quan tới điều hành hoạt động (như chấp thuận rút tiền, gia hạn khoản tiền rút, điều kiện từ chối) sẽ do người đại diện ngân hàng trung ương ASEAN+3 đưa ra. Đổi lại, các bộ trưởng tài chính ASEAN+3 sẽ chịu trách nhiệm về các quyết định liên quan tới vấn đề cơ bản như quy mô của quỹ, lượng tiền đóng góp và tư cách thành viên tới CMIM.

1.2.4.   Tầm quan trọng của kiểm tra giám sát trong khu vực

Văn phòng nghiên cứu kinh tế vĩ mô ASEAN+3 (AMRO), một văn phòng giám sát độc lập trong khu vực, được thành lập tại Singapore nhằm hỗ trợ cho quá trình ra quyết định của CMIM. AMRO cũng sẽ chịu trách nhiệm đối với việc thực hiện kiểm tra giám sát hoạt động của CMIM.