Việt Nam thuộc nhóm tham gia nhiều FTA nhất thế giới

11/09/2017 | 00:00:00

“Việt Nam là nước tham gia nhiều hiệp định mậu dịch thương mại thuộc loại hàng đầu thế giới”, chuyên gia Trương Đình Tuyển nói.

Sáng 8/9, tại Hà Nội, Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (LHHVN) đã tổ chức diễn đàn khoa học: “Cơ hội và thách thức đối với nền kinh tế Việt Nam khi tham gia hiệp định thương mại thế hệ mới”.

TS Phạm Văn Tân, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký LHHVN và TS Phan Tùng Mậu, Phó Chủ tịch LHHVN chủ trì hội nghị.  

Tham dự hội nghị có tham gia của nhiều chuyên gia uy tín trong lĩnh vưc kinh tế thương mại như: ông Trương Đình Tuyển, nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại; PGS.TS Trần Kim Chung, Phó viện trưởng Viện quản lý kinh tế Trung ương (CIEM); TS Hoàng Xuân Hòa, Vụ trưởng Vụ kinh tế tổng hợp (Ban Kinh tế Trung ương); GS.TSKH Lê Du Phong (nguyên Hiệu trưởng trường Đại học kinh tế quốc dân), TS Lưu Bích Hồ (nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược phát triển)...

Yêu cầu cải cách thể chế sâu rộng

Phát biểu tại diễn đàn, PGS.TS Trần Kim Chung,  Phó viện trưởng Viện quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) nhận định, hội nhập kinh tế quốc tế đã mang lại động lực và điều kiện cho Việt Nam phát triển nhanh và bền vững, góp phần khẳng định vị trí của Việt Nam trong khu vực và thế giới.

Song song với ổn định kinh tế vĩ mô và cải cách thể chế theo định hướng thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế cũng mang lại nhiều cơ hội cho nền kinh tế, cho cộng đồng doanh nghiệp và người dân Việt Nam.

Chính quá trình hội nhập sâu rộng cũng góp phần tạo động lực cho Việt Nam thực hiện cải cách mạnh mẽ trong nước. Bên cạnh đó, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế cũng mang lại một số thách thức trong quá trình thực thi các cam kết và thỏa ước quốc tế, nhất là trong bối cảnh gia tăng cạnh tranh.

Theo ông Chung, với phạm vi và độ sâu của các cam kết trong các Hiệp định Thương mại tự do thế mới (FTA) tiếp tục gia tăng so với cam kết trong WTO và các thỏa ước hội nhập kinh tế quốc tế truyền thống khác, những thách thức từ hội nhập kinh tế quốc tế sẽ đan xen với các cơ hội và ở cách phức tạp hơn, ảnh hưởng đáng kể đến quá trình ổn định và phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam.

Trong bối cảnh ấy, theo ông Chung, việc tận dụng cơ hội và xử lý các thách thức đòi hỏi phải có những nỗ lực của nhiều bên nhằm cải cách thể chế trong nước một cách sâu rộng hơn như: cơ hội từ mở rộng thị trường, gia tăng xuất khẩu; cơ hội tiếp cận nguồn vốn đầu tư; cơ hội tiếp cận công nghệ, kỹ năng quản lý nước ngoài; cơ hội thúc đẩy cải cách thể chế trong nước theo định hướng thị trường đồng thời giúp thay đổi tư duy và nâng cao chất lượng hoạch định chính sách của Việt Nam.

“Trong bối hội nhập thế hệ mới, Việt Nam cần có chiến lược tạo sự đồng thuận. Bên cạnh việc khuyến khích sự tham gia rộng rãi, tích cực và chủ động hơn của khu vực tư nhân, các hiệp hội ngành, các tổ chức chính trị xã hội và người dân trong việc thực thi các cam kết, Việt Nam cần tiếp tục đẩy mạnh công tác thông tin, truyền thông, về những cơ hội và thách thức khi Việt Nam tham gia FTA thế hệ mới.

Đồng thời, Việt Nam cần ban hành những giải pháp cần thiết liên quan đến chính sách ngành, chính sách thương mại, thu hút FDI, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận nguồn lực và nâng cao năng lực cạnh tranh, củng cố ổn định kinh tế vĩ mô,… nhằm tận dụng các cơ hội và xử lý các thách thức từ các FTA thế hệ mới”, ông Chung nhấn mạnh.

Chủ nghĩa bảo hộ chỉ là một hiện tượng nhất thời

Trong khi đó, theo thống kê của ông Trương Đình Tuyển, nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại, đến thời điểm này, cùng với việc gia nhập WTO, không tính TPP, Việt Nam đã tham gia vào 11 hiệp định mậu dịch tự do (MDTD) song phương và khu vực đang có hiệu lực hoặc đã kết thúc đàm phán.

Ngoài ra, Việt Nam đang đàm phán Hiệp định MDTD với Hiệp hội MDTD Châu Âu gồm: Thụy Sỹ, Na Uy, Iceland và Leixtantein và Hiệp định MDTDO ASEAN+6 (gồm Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Úc và Newzealand). Hiệp định RCEP đang khởi động đàm phán FTA với Israel, Hồng Kong (Trung Quốc).

“Việt Nam là nước tham gia nhiều hiệp định MDTD thuộc loại hàng đầu thế giới và Việt Nam là nền kinh tế có độ mở rất lớn”, ông Tuyển nhấn mạnh.

Theo ông Tuyển, trên thế giới có hai xu hướng đối nghịch nhau. Xu hướng biệt lập, thực thi chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch, tiêu biểu cho xu hướng này là Hoa Kỳ dưới thời chính quyền Donald Trump và xu hướng thúc đẩy tự do hóa thương mại, đầu tư. Lực lượng đầu tàu cho xu hướng này gần đây là Nhật Bản và Trung Quốc và kéo theo hầu hết các quốc gia dân tộc.

Nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại thừa nhận, toàn cầu hóa kinh tế, tự do hóa thương mại đang là xu thế tất yếu do sự phát triển của lực lượng sản xuất-kết quả của cuộc cách mạng công nghệ đang diễn ra hết sức mạnh mẽ.

Chủ nghĩa bảo hộ chỉ là một hiện tượng nhất thời, ngắn hạn. Vì vậy phải tích cực và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế như nghị quyết của Đảng.

Để hội nhập thành công, ông Tuyển cho rằng Việt Nam phải đẩy mạnh cải cách, coi nội lực là yếu tố quyết định, ngoại lực là quan trọng. Cải cách để khơi dậy và phát huy nội lực, tranh thủ ngoại lực.

“Đặc biệt chúng ta phải lấy lợi ích của đất nước là mục tiêu trên hết và trước hết, là tiêu chí quyết định trong việc lựa chon tham gia vào các định chế hội nhập.

Hội nhập mở ra cơ hội nhưng cũng đặt ra thách thức. Và trong thách thức luôn tiềm ẩn những cơ hội”, ông Tuyển nói.

Phải coi trọng vấn đề thương hiệu

Cùng đưa ý kiến, TS Phạm Sỹ Liêm, nguyên Thứ trưởng Bộ Xây dựng cho rằng thời gian vừa qua, vấn đề phân định tài sản, nhất là tài sản tư nhân của chúng ta không rõ ràng. Điều này dẫn đến lợi ích giữa các bên chồng chéo và không có tác dụng thúc đẩy nền kinh tế phát triển.

Khi hội nhập kinh tế quốc tế, ông Liêm chp rằng chúng ta phải xem vấn đề giao dịch như thế nào, đặc biệt là vấn đề bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.

“Tôi đề nghị cải cách thể chế để hội nhập sâu và phát triển. Hội nhập sâu là biết mình biết người, nâng cao năng lực cạnh tranh ở mọi cấp đồng thời tăng cường hợp tác trong nước.

Muốn hội nhập sâu thì chúng ta phải coi trọng vấn đề thương hiệu đồng thời phải đổi mới toàn diện, đổi mới chính trị. Đặc biệt, chúng ta nên tính đến xóa đất đai thuộc sở hữu toàn dân để tạo điều kiện cho các nền kinh tế phát triển”, ông Liêm nhấn mạnh.

Trong khi đó, điều TS Lưu Bích Hồ, nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược phát triển lo lắng nhất hiện nay là tình trạng tham nhũng, cơ chế xin – cho ngày càng trở nên phổ biến khiến Việt Nam không có được một nền kinh tế thị trường đúng nghĩa.

Đặc biệt, theo ông Hồ, chúng ta đang ở trong bẫy thu nhập trung bình, bẫy về vấn đề đổi mới thể chế cũng như mô hình phát triển.

“Kinh tế hiện nay của chúng ta đang chính trị hóa, hành chính hóa. Chúng ta chưa có nền kinh tế thật sự. Nếu Việt Nam không vượt qua được bẫy này thì không thể hội nhập và phát triển được.

Các nước đang chuyển sang một mô hình, thể chế hội nhập thế hệ mới nhưng chúng ta lại đang ở trong thế hệ cũ. Riêng về khoa học công nghệ, công nghiệp 4.0 chúng ta mới đạt được 2.0, có cái còn chưa được mức đó.

Vậy thì làm sao mà gọi là thế hệ mới được? Một thế hệ cũ chưa chuyển được sang thế hệ mới như các nước thì làm sao chúng ta hội nhập được. Thách thức chính là ở chỗ đó”, ông Hồ lo lắng.

TS Lưu Bích Hồ nhận định, tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam hiện nay đang tiến tới mức kịch trần và khó có thể vượt qua 7% tăng trưởng nếu không có sự thay đổi thật sự mạnh mẽ.

Để làm được điều này, vị chuyên gia cho rằng Việt Nam cần phải tái cơ cấu, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường để khắc phục những tồn tại, bất cập như thời gian qua.

“Đặc biệt, phải giao quyền tự chủ cho nền kinh tế tư nhân, sử dụng kinh tế tư nhân là tiềm lực chính để hội nhập kinh tế”, ông Hồ nêu quan điểm.

Nguồn: Quỳnh Anh, tổng hợp