CAM KẾT VỀ THUẾ CỦA VIỆT NAM TRONG CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO: PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG VÀ KIẾN NGHỊ

28/12/2017 | 00:00:00

Trong xu thế hội nhập của thế giới, Việt Nam đã tích cực, chủ động tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế và khu vực thông qua việc thiết lập quan hệ hợp tác song phương, đa phương. Tính đến nay, Việt Nam đã tham gia vào các khu vực mậu dịch tự do như: Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), Khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc (ACFTA), ASEAN – Hàn Quốc (AKFTA), ASEAN – Nhật Bản (AJCEP), Việt Nam – Nhật Bản (VJEPA), ASEAN – Úc – Niu Di-lân (AANZFTA), ASEAN - Ấn Độ (AIFTA), Việt Nam – Chi Lê, Việt Nam – Liên minh kinh tế Á Âu; đồng thời tham gia ký kết Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) và Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA).

1.  Cam kết về thuế của Việt Nam trong các hiệp định thương mại tự do

Về thuế nhập khẩu: Trong hầu hết các FTA đã ký kết, mức độ tự do hóa về thuế nhập khẩu trung bình khoảng 90% dòng thuế, riêng hiệp định ASEAN (ATIGA) là hiệp định nội khối thì mức độ cam kết tự do hóa lên đến gần 98%. Điều này cho thấy, phạm vi cắt giảm thuế nhập khẩu khá rộng. Về lộ trình, ATIGA là hiệp định hoàn thành sớm nhất (2018), tiếp theo đó là ACFTA (2020), AKFTA (2021), một số hiệp định có lộ trình hoàn thành xa hơn như VCFTA (2030). Năm 2015, mức độ tự do hóa thuế quan của Việt Nam với các đối tác FTA đã ở mức khá cao: trong ATIGA đạt khoảng 93%, ASEAN-Trung Quốc 84% số dòng thuế về 0%, ASEAN-Hàn Quốc 78% và ASEAN-Nhật Bản 62%. Theo đó, nhiều mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu lớn từ ASEAN, Trung Quốc và Hàn Quốc được hưởng thuế 0% từ năm 2015 như sắt thép, phân bón, sản phẩm điện tử, xe tải, đồ điện gia dụng, máy móc thiết bị…

Lộ trình cam kết của các hiệp định thương mại tự do đã ký kết

Khuôn khổ

Phạm vi cam kết (% số dòng thuế về 0%)

Hiệu lực

Hoàn thành

ASEAN

98%

1999

2018

ACFTA

90%

2005

2020

AKFTA

97%

2007

2021

AANZFTA

90%

2009

2022

AIFTA

78%

2010

2024

AJCEP

87%

2008

2025

VJEPA

92%

2009

2026

VCFTA

89%

2014

2030

VKFTA

88%

20/12/2015

2029

VNEAEUFTA

88%

Ngoài ra, trong năm 2015, Việt Nam cũng đã kết thúc đàm phán hiệp định thế hệ mới là EVFTA với mức độ tự do hóa cao hơn và lộ trình ngắn hơn, hướng tới cam kết xóa bỏ thuế quan đối với 100% số dòng thuế. Theo đó, Việt Nam cam kết xóa bỏ 48,5% số dòng thuế (tương đương 64,5% kim ngạch nhập khẩu từ EU) ngay khi hiệp định có hiệu lực và xóa bỏ 99% dòng thuế (tương đương 99,8% kim ngạch nhập khẩu từ EU) sau 10 năm. Đối với các dòng thuế còn lại, Việt Nam có lộ trình trên 10 năm hoặc dành ưu đãi cho EU trên cơ sở hạn ngạch thuế quan của WTO.

Đối với cắt giảm thuế xuất khẩu, trong WTO và các FTA đã ký kết, Việt Nam không cam kết xóa bỏ thuế xuất khẩu[1] tuy nhiên trong EVFTA Việt Nam đã cam kết về xóa bỏ thuế xuất khẩu, Việt Nam cam kết xóa bỏ thuế xuất khẩu đối với 546 mặt hàng sang Châu Âu với lộ trình ngắn nhất là 7 năm và dài nhất là 15 năm. Còn lại 57 mặt hàng quan trọng sẽ được tiếp tục duy trì thuế xuất khẩu và áp dụng một mức trần thuế xuất khẩu từ 10-12% (bao gồm các mặt hàng khoáng sản, quặng kim loại, than đá, vàng và vàng trang sức).

Như vậy, với lộ trình cam kết như trên, có thể thấy rằng mức độ và phạm vi xóa bỏ thuế quan, đặc biệt là thuế nhập khẩu của Việt Nam trong các hiệp định FTA là khá rộng và toàn diện. Theo đó, trong vòng 3-5 năm tới sẽ chạm đến các dấu mốc quan trọng của nhiều Hiệp định và dần tiến tới tự do hóa thuế quan đối với hầu hết các mặt hàng nhập khẩu từ các đối tác thương mại chính.

2.  Tác động của cam kết thuế trong các hiệp định FTA đến kinh tế Việt Nam

Đối với hoạt động thương mại: Để có thể thực hiện các cam kết về thuế theo các hiệp định thương mại song phương và đa phương, Việt Nam phải hoàn thiện hệ thống quản lý hải quan theo tiêu chuẩn quốc tế và cắt giảm các hàng rào thuế quan, qua đó mở rộng thị trường, đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam.

Nếu như năm 2007, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam là 111,3 tỷ USD (trong đó xuất khẩu là 48,5 tỷ USD và nhập khẩu là 62,7 tỷ USD) thì tới năm 2016 tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam đã tăng hơn 3 lần đạt 350,74 tỷ USD trong đó xuất khẩu hàng hóa đạt 176,63 tỷ USD, tăng 9% so với năm 2015 và nhập khẩu hàng hóa là 174,11 tỷ USD, tăng 5,2% so với năm 2015.

Bên cạnh đó, việc mở rộng FTA với nhiều đối tác không những giúp Việt Nam đa dạng hóa và giảm dần phụ thuộc vào các thị trường truyền thống về nguyên liệu mà còn mang đến nhiều cơ hội để mở rộng thị trường xuất khẩu[2]. Trong năm 2015, Việt Nam có trao đổi hàng hóa với hơn 200 quốc gia, vùng lãnh thổ. Trong số các thị trường trên, số thị trường đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD của xuất khẩu là 29 thị trường với tổng kim ngạch là 147,36 tỷ USD, chiếm gần 90,9% tổng trị giá xuất khẩu hàng hóa của cả nước. Số thị trường đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD của nhập khẩu là 19 thị trường với tổng trị giá là 150,42 tỷ USD, chiếm 90,8% tổng trị giá nhập khẩu hàng hóa của cả nước.

Cơ cấu từng mặt hàng xuất khẩu cũng có những chuyển dịch tích cực. Xuất khẩu Việt Nam chuyển dịch dần cơ cấu từ sản xuất các sản phẩm dệt may, giày dép, nông sản sang nhóm các sản phẩm máy vi tính, linh kiện điện tử, điện thoại với tỷ trọng của nhóm này tăng lên 28,27% trong năm 2015 (so với 4,4% của năm 2007), trong đó điện thoại và linh kiện là mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam (18,6%). Mặc dù vậy, xuất khẩu Việt Nam trong giai đoạn này vẫn chưa thực sự thay đổi về chất, các sản phẩm xuất khẩu chưa thực sự tạo ra được nhiều giá trị gia tăng cho nền kinh tế. Hầu hết các sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam mới chỉ dừng lại ở mức gia công lắp ráp, các nguyên phụ liệu đầu vào chủ yếu là nhập khẩu. Tỷ lệ doanh nghiệp đầu tư sản xuất nguyên phụ liệu thấp trong khi tỷ lệ nội địa hóa sản phẩm chậm được cải thiện. Bên cạnh đó, các yêu cầu về nguồn gốc xuất xứ, các rào cản kỹ thuật thương mại như quy định về tiêu chuẩn, kỹ thuật, vệ sinh dịch tễ, an toàn thực phẩm, tiêu chuẩn về môi trường cũng như các biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp cũng ảnh hưởng khá lớn đến khả cạnh tranh của hàng xuất khẩu Việt Nam.

 Đối với nhập khẩu, mặc dù việc ký kết FTA với nhiều đối tác song trong ngắn hạn, nhập khẩu của Việt Nam vẫn còn phụ thuộc nhiều vào các thị trường truyền thống (chủ yếu là từ Trung Quốc) do mức độ cam kết thuế sâu cũng như vị trí địa lý, sẽ khiến cho vấn đề nhập siêu từ Trung Quốc còn tiếp tục kéo dài. Bên cạnh đó, việc cắt giảm thuế cũng tạo áp lực đến hoạt động của các doanh nghiệp trong nước.

Đối với thu hút đầu tư nước ngoài: Bên cạnh lộ trình cắt giảm thuế trong các FTA, sự cải thiện về môi trường kinh doanh đã thu hút vốn đầu tư nước ngoài mạnh mẽ, đóng góp vào công cuộc phát triển và xây dựng đất nước. Giai đoạn tới, khi các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới có hiệu lực, việc dỡ bỏ các biện pháp hạn chế đầu tư và dịch vụ, mở cửa thị trường mua sắm Chính phủ, dịch vụ tài chính … sẽ mở ra cơ hội lớn đối với lĩnh vực đầu tư của Việt Nam. Dòng vốn đầu tư nước ngoài sẽ gia tăng nhanh chóng, các doanh nghiệp đầu tư vào Việt Nam nhằm tiếp cận được với khu vực thương mại tự do lớn nhất thế giới hiện nay[3], tận dụng nguồn gốc xuất xứ và các ưu đãi về thuế quan.

Ngoài ra, các yêu cầu về chính sách và bảo hộ đầu tư công bằng, không phân biệt đối xử, cho phép tự do chuyển tiền liên quan đến đầu tư, tự do bổ nhiệm các vị trí quản lý cấp cao mà không quan tâm đến quốc tịch, mở cửa thị trường rộng hơn cho các thành viên CPTPP bằng việc cho phép cung cấp các dịch vụ tài chính cụ thể qua biên giới sang một nước thành viên CPTPP từ một nhà cung cấp dịch vụ của thành viên CPTPP khác mà không yêu cầu nhà cung cấp dịch vụ phải thành lập cơ sở hoạt động tại một nước khác để bán dịch vụ của mình… Thực hiện những yêu cầu trong CPTPP sẽ khiến cho môi trường đầu tư của Việt Nam trở nên thuận lợi hơn, minh bạch hơn, thuận lợi hơn từ đó sẽ thu hút được nhiều vốn đầu tư hơn nữa.

Hiện nay, có hơn 100 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư tại Việt Nam, trong đó, những quốc gia mà Việt Nam có quan hệ FTA như Hàn Quốc và Nhật Bản, Singapore, Trung Quốc… là những quốc gia  đầu tư vào Việt Nam nhiều nhất. Cùng với quá trình tự hóa thương mại, dòng vốn đầu tư vào Việt Nam cũng không ngừng tăng lên. Nếu như năm 1999, đầu tư FDI vào Việt Nam chỉ đạt hơn 1,5 tỷ USD thì đến năm 2015 đã lên đến trên 22,7 tỷ USD (thậm chí năm 2008 còn lên đến trên 71 tỷ USD), tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực như công nghiệp chế biến, chế tạo và bất động sản. Trong thời gian qua, các doanh nghiệp FDI đã đóng góp đáng kể cho nền kinh tế: (i) đóng góp vào GDP không ngừng tăng lên; (ii) giải quyết khoảng 2 triệu việc làm với mức thu nhập và năng suất lao động cao hơn mặt bằng chung cả nước, góp phần cải thiện đời sống của người dân; (iii) đóng góp cho NSNN, nhờ đó thu NSNN từ khu vực này chiếm khoảng hơn 14% NSNN.

Mặc dù vậy, có một số vấn đề đặt ra đối với dòng vốn FDI: (i) đóng góp của FDI trong việc nâng cao năng lực công nghiệp, công nghệ còn hạn chế; (ii) mối liên kết giữa các doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước còn yếu kém, sự tham gia của doanh nghiệp trong nước vào chuỗi giá trị gia tăng toàn cầu còn hạn chế; (iii) các doanh nghiệp FDI chủ yếu hoạt động ở trong lĩnh vực gia công lắp ráp, thâm dụng lao động và ít có khả năng tạo ra tác động lan tỏa về mặt công nghệ; (iv) khung pháp lý và chính sách mở cửa FDI, hội nhập kinh tế quốc tế tuy ngày càng được cải thiện song vẫn còn những tình trạng “xé rào trong chính sách ưu đãi” để thu hút đầu tư FDI mà chưa quan tâm đúng mức tới vấn đề bảo vệ môi trường, chống chuyển giá, trốn thuế…; (iv) dòng vốn liên thông hơn với quốc tế cũng khiến cho những bất ổn kinh tế vĩ mô gia tăng trong bối cảnh kinh tế thế giới và khu vực có nhiều biến động dẫn đến những thách thức trong việc xây dựng và thực thi các chính sách kinh tế vĩ mô.

Đối với thu ngân sách: Việc thực hiện các cam kết về thuế trong các FTA đã làm giảm trực tiếp số thu ngân sách từ thuế nhập khẩu, đặc biệt là giai đoạn 5 năm trở lại đây. Tỷ trọng các khoản thu NSNN từ hoạt động xuất nhập khẩu có xu hướng giảm từ mức bình quân 24% bình quân giai đoạn 1995-1999 (giai đoạn chưa thực hiện cắt giảm thuế quan theo AFTA) xuống còn 20% giai đoạn 2000-2010 và 18% bình quân giai đoạn 2011-2015. Giai đoạn 2016-2020, khi các hiệp định FTA bước vào giai đoạn cắt giảm sâu, nhiều dòng thuế tiếp tục được đưa về 0% thì số thu NSNN từ thuế xuất nhập khẩu được dự báo sẽ tiếp tục giảm.

Mặc dù vậy, nếu xét về tổng thể tác động của việc cắt giảm thuế trong các hiệp định thương mại tự do đến thu NSNN cũng không nhiều, do:

(i)            Việc cắt giảm thuế quan trong CPTPP và trong các FTA sẽ khiến cho kim ngạch nhập khẩu từ các nước đối tác tăng lên do giá hàng hóa nhập khẩu giảm, dẫn đến nguồn thu từ thuế nhập khẩu, thuế GTGT và thuế TTĐB hàng nhập khẩu cũng tăng.

(ii)           Trong thời gian qua, thu ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu tính về số tuyệt đối vẫn tăng, chỉ có tỷ trọng số thu từ hoạt động xuất nhập khẩu trong tổng thu NSNN là giảm từ khoảng 21% giai đoạn 2001-2005 xuống còn hơn 18% giai đoạn 2011-2015. Tuy nhiên, việc giảm thuế nhập khẩu cũng có những tác động tích cực đối với hoạt động sản xuất, tiêu dùng trong nước, dẫn đến tăng tỷ trọng thu ngân sách từ các sắc thuế nội địa như thuế VAT, thuế thu nhập doanh nghiệp[4]… để bù đắp số giảm thu do cắt giảm thuế xuất nhập khẩu.

Đối với các ngành kinh tế: tùy vào đặc điểm của từng ngành, các doanh nghiệp trong ngành sẽ chịu tác động ở mức độ khác nhau, tuy nhiên, các ngành da giày và dệt may sẽ được hưởng lợi nhiều từ các FTA do đã có một số thị phần nhất định trong những thị trường lớn; thuận lợi về sự dịch chuyển dây chuyền sản xuất từ các nước vào Việt Nam; sự đa dạng trong gia công sản phẩm. Đối với ngành thủy sản, hội nhập FTA cũng giúp Việt Nam gia tăng kim ngạch xuất khẩu và với lộ trình cắt giảm thuế nhập khẩu giúp Việt Nam có cơ hội mở rộng thị trường xuất khẩu. Tuy nhiên, các ưu đãi của FTA đối với những ngành này cũng đi kèm với những quy định khắt khe về chất lượng sản phẩm, lao động, vấn đề quy tắc xuất xứ, rào cản về kỹ thuật, vệ sinh, an toàn, môi trường, trách nhiệm xã hội. Đối với ngành ô tô,được đánh giá là ngành ngành có nhiều cơ hội phát triển về lâu dài nhưng cũng gặp nhiều thách thức. Xu hướng giảm thuế theo các hiệp định sẽ thúc đẩy việc mở rộng thị trường nhập khẩu linh kiện ô tô từ thị trường khác (như Indonesia, Thái Lan, Malaysia và Trung Quốc) do thuế nhập khẩu từ các thị trường này thấp hơn sẽ khiến cho giá cả cạnh tranh hơn so với giá cả ở các thị trường Nhật Bản, Hàn Quốc. Tuy nhiên, các doanh nghiệp trong ngành cũng sẽ gặp áp lực cạnh tranh ngày càng tăng.

3.   Một số đề xuất, kiến nghị

Hiệp định thương mại tự do và các cam kết thuế một mặt mang lại cơ hội cho kinh tế Việt Nam trong việc tiếp cận với các nguồn nguyên liệu đa dạng, giá rẻ, tạo điều kiện thuận lợi cho thu hút vốn FDI song mặt khác cũng đặt ra không ít khó khăn thách thức đối với thu NSNN, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam với doanh nghiệp FDI, khả năng tận dụng cơ hội cắt giảm thuế từ FTA để gia tăng hoạt động xuất khẩu…. Do đó, để có thể tận dụng được những cơ hội và hạn chế những thách thức mà việc thực hiện các cam kết thuế quốc tế tạo ra, trong thời gian tới, cần chú trọng đến một số giải pháp sau:

3.1. Đối với doanh nghiệp

Để tồn tại, các doanh nghiệp Việt Nam cần phải liên kết với nhau, cùng vượt qua thách thức, nâng cao năng lực cạnh tranh. Doanh nghiệp Việt Nam cần đẩy mạnh xuất khẩu ở những lĩnh vực lợi thế như: sản phẩm điện tử và linh kiện; phương tiện vận tải và phụ tùng; thiết bị máy móc, sắt thép các loại, gạo, cao su. Chủ động xây dựng năng lực sản xuất, kinh doanh, cải thiện chất lượng, mẫu mã sản phẩm để nâng cao khả năng cạnh tranh và xây dựng thương hiệu. Cùng với việc tăng nhanh tỉ lệ nội địa hóa nguyên phụ liệu của ngành, giảm thiểu phụ thuộc và các nhà cung cấp nước ngoài, tăng cường đầu tư phát triển công nghiệp hỗ trợ, đầu tư vào các vùng trồng nguyên liệu trong nước.

Doanh nghiệp cần chủ động đổi mới, nâng cao khả năng cạnh tranh, chủ động trong ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông, đổi mới phương thức quản trị doanh nghiệp. Các doanh nghiệp sẽ phải chịu sự cạnh tranh gay gắt hơn, nếu không đổi mới hoạt động quản trị doanh nghiệp và ứng dụng công nghệ thông tin, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng cường quảng bá thương hiệu thì những doanh nghiệp yếu kém sẽ thất bại. Các doanh nghiệp cần chủ động xây dựng các chiến lược kinh doanh, phát triển sản xuất để có thể cạnh tranh với hàng hóa từ các nước trong khu vực ngay cả trong thị trường nội địa và thị trường xuất khẩu, nghiên cứu đáp ứng các tiêu chí về quy tắc xuất xứ để được hưởng các ưu đãi về thuế quan. Đồng thời, cần khai thác tốt những thế mạnh của mình để tận dụng những lợi thế về thuế quan cũng như chủ động đón đầu sức ép cạnh tranh.

Cần theo dõi sát sao các thông tin, lộ trình cam kết... từ đó đưa ra định hướng đúng, xây dựng chiến lược kinh doanh hợp lý. Quan trọng hơn, cộng đồng doanh nghiệp phải có lộ trình thích nghi, thay đổi phù hợp bởi nếu rào cản thuế quan được gỡ bỏ hoàn toàn và mang lại lợi ích kinh tế lớn thì quy tắc xuất xứ nổi lên như một rào cản mới.

Cần sớm có cơ chế đầu tư nguồn nhân lực, chính sách đãi ngộ về vật chất và tinh thần thỏa đáng cho người lao động, đặc biệt là lao động có tay nghề cao. Đây chính là đầu tư cho nguồn nhân lực để tạo ra lợi thế cạnh tranh khi hội nhập. Ngoài ra, các doanh nghiệp cần tích cực hơn trong phát triển thị trường lao động trong nước, phối kết hợp với các cơ quan quản lý nhà nước tập trung vào hoàn thiện cơ chế, chính sách để phát triển đồng bộ, liên thông thị trường lao động khu vực cả về quy mô, chất lượng và cơ cấu ngành nghề. Cần phát triển lực lượng lao động có tay nghề và trình độ chuyên môn cao, giỏi về ngoại ngữ, thông thạo môi trường khu vực. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp cần đổi mới cơ chế quản lý tiền lương gắn với năng suất lao động và hiệu quả kinh doanh, khuyến khích người lao động tự động nâng cao kỹ năng nghề nghiệp của mình.

3.2. Đối với các hiệp hội

Triển khai các hoạt động cung cấp và tư vấn cho doanh nghiệp về pháp luật kinh doanh, các kiến thức về hội nhập kinh tế quốc tế cũng như kinh nghiệm đối phó với các vụ kiện quốc tế, các rào cản thương mại của các thị trường xuất khẩu.

Tổ chức nhiều chương trình xúc tiến thương mại – đầu tư theo thị trường, ngành hàng và lĩnh vực kinh doanh cụ thể để nâng cao khả năng tiếp cận thị trường trong và ngoài nước cũng như hỗ trợ doanh nghiệp tiếp thị thương hiệu sản phẩm và doanh nghiệp tới các thị trường xuất khẩu trọng điểm.

Tiếp tục đẩy mạnh vai trò cầu nối giữa doanh nghiệp và các cơ quan quản lý, tạo điều kiện kết nối giao lưu giữa các doanh nghiệp hội viên; tăng cường phổ biến thông tin hội nhập về pháp luật của các nước, sở hữu trí tuệ, sở hữu công nghiệp, quản lý chất lượng, các quy tắc xuất xứ… cho các doanh nghiệp hội viên, hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng thương hiệu.

3.3. Đối với Nhà nước

Hoàn thiện thể chế, chính sách gắn với việc thực hiện các cam kết hội nhập nhằm nâng cao hiệu quả huy động, sử dụng vốn đầu tư, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh. Thay đổi chính sách thu hút FDI theo hướng thu hút có chọn lọc các đối tác phù hợp với yêu cầu phát triển của Việt Nam, chú trọng đến hướng phát triển bền vững để giảm thiểu tác động tiêu cực. Tăng cường công tác kiểm soát kiểm toán các doanh nghiệp FDI, đặc biệt là các doanh nghiệp thường báo lỗ để chống chuyển giá. Tăng cường các biện pháp quản lý, giám sát doanh nghiệp FDI trong vấn đề quy trình xử lý chất thải, nhập khẩu các thiết bị dây chuyền công nghệ cũ, lạc hậu…

  Tiếp tục điều chỉnh chính sách, cơ cấu thu NSNN nhà nước theo hướng huy động từ thuế và phí ở mức hợp lý, kết hợp với sửa đổi, bổ sung các chính sách thu nội địa phù hợp với sự phát triển của đất nước để bù đắp giảm thu do cắt giảm thuế quan, hoàn thiện hệ thống khuôn khổ pháp lý về quản lý NSNN, tổ chức thực hiện có hiệu quả Luật ngân sách nhà nước, đảm bảo tính tập trung thống nhất vai trò chủ đạo và điều phối của ngân sách trung ương, tạo điều kiện chủ động cho các địa phương trong quản lý, sử dụng nguồn lực được phân cấp.

Cần tăng cường đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến các cam kết, hiệp định mà Việt Nam tham gia đến từng ngành, địa phương, doanh nghiệp và người dân để các đối tượng có liên quan có thể nắm, hiểu được và thực hiện tốt các cam kết nhằm đạt kết quả cao nhất. Hoàn thiện chính sách thương mại cho phù hợp với điều kiện của Việt Nam và không xung đột với các cam kết trong các Hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam đã và sẽ tham gia.

Thực hiện đồng bộ các biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu, mở rộng thị trường, khai thác tốt những thị trường hiện có và những thị trường tiềm năng để xuất khẩu các mặt hàng có giá trị gia tăng và giá trị kim ngạch cao. Xây dựng và quy hoạch hóa đồng bộ các ngành công nghiệp hỗ trợ, xác định ngành công nghiệp hỗ trợ phù hợp với chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam, đảm bảo tính hiệu quả trong thực thi chính sách, nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngành hàng Việt Nam trong hội nhập.

TS. Lê Quang Thuận, Viện Chiến lược và Chính sách tài chính


[1] Ngoại trừ nhóm hàng sắt thép, phế liệu kim loại giảm về 17% và 22% sau 5 năm gia nhập WTO thực hiện từ 2007

[2] Việc cắt giảm thuế suất từ các FTA cũng tạo ra hiệu ứng chuyển dịch kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ các nước đối tác (trong đó, Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc là những quốc gia được hưởng nhiều lợi thế nhất từ hội nhập thuế quan)

[3]với quy mô dân số trên 800 triệu dân, chiếm gần 40% GDP và 30% thương mại toàn cầu, trong đó có những đối tác lớn như Mỹ, Nhật Bản, Canada, Australia

[4]Cắt giảm thuế nhập khẩu làm giảm giá thành sản xuất của doanh nghiệp sử dụng máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu nhập khẩu, tạo điều kiện để doanh nghiệp tăng lợi nhuận hoặc mở rộng quy mô sản xuất, từ đó, góp phần làm tăng nguồn thu từ thuế thu nhập doanh nghiệp