Login     

Tin tức

Trong bối cảnh cuộc chiến thương mại đang diễn ra giữa Trung Quốc và Mỹ- hai nền kinh tế lớn nhất thế giới, ASEAN và 6 đối tác Đông Á đang nỗ lực để thành lập khu vực thương mại kinh tế lớn nhất thế giới ở Châu Á. Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) đã nổi lên như một FTA lớn cùng với Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP).

RCEP chiếm 50% dân số thế giới và 32% GDP toàn cầu. Thương mại giao dịch giữa các thành viên RCEP hiện tại chiếm 28% thương mại thế giới. Tầm quan trọng của RCEP chủ yếu là kinh tế. Hiệp định này có khả năng hài hòa các quy tắc và tạo điều kiện thuận lợi cho các giao dịch kinh doanh giữa nhiều FTA và chồng chéo ở Đông Á, qua đó đóng vai trò là một khối xây dựng cho hệ thống thương mại đa phương. Tuy nhiên, các khía cạnh chiến lược của RCEP cũng rất quan trọng, đặc biệt đối với Mỹ đang ngày càng hướng nội, vì có tiềm năng tạo ra một mô hình mới.

RCEP đã nhận được ít sự quan tâm hơn CPTPP, chủ yếu vì các mục tiêu của hiệp định này dựa trên 5 FTA ASEAN +1 hiện có, hướng tới ASEAN là trọng tâm và chất lượng tự do hóa thấp hơn. Thông qua khuôn khổ này, các thành viên RCEP đang đàm phán các quy tắc để tiếp cận thị trường, dịch vụ, đầu tư và sở hữu trí tuệ, v.v. Bởi vì ASEAN sẽ là trung tâm cấu trúc nên RCEP bao gồm một số quốc gia kém phát triển nhất, như Campuchia, Lào và Myanmar. Do đó, tốc độ và phạm vi của RCEP ít tham vọng hơn nhiều so với CPTPP.

Điều 4 trong các nguyên tắc hướng dẫn và mục tiêu cho các cuộc đàm phán nêu rõ rằng RCEP sẽ công nhận các hình thức linh hoạt, bao gồm các điều khoản đối xử đặc biệt và khác biệt để tính đến mức độ phát triển khác nhau giữa các quốc gia thành viên. Trong khi CPTPP tìm cách thúc đẩy các tiêu chuẩn lao động và môi trường cấp cao và giải quyết các vấn đề với các doanh nghiệp nhà nước, RCEP thậm chí không có một nhóm làm việc để thảo luận về các vấn đề này trong các cuộc đàm phán. Hơn nữa, các nước tham gia RCEP đã có một loạt các FTA song phương và tiểu vùng, điều này có thể làm giảm tác động tổng thể của quan hệ đối tác đối với thương mại. Tại sao các quốc gia thành viên đang gấp rút kết thúc đàm phán?

Trước hết, tranh chấp thương mại đang diễn ra giữa Trung Quốc và Mỹ là một lý do quan trọng. Có một động lực đổi mới mạnh mẽ để kết thúc cuộc đàm phán chủ yếu bởi vì RCEP không bao gồm Mỹ sẽ đưa ra các cơ hội thương mại và đầu tư lớn trong bối cảnh xung đột thương mại giữa Washington và Bắc Kinh Trong bối cảnh này, kết thúc đàm phán RCEP cũng có thể gửi một thông điệp mạnh mẽ từ Đông Á chống lại chủ nghĩa bảo hộ.

Trên thực tế, sự gia tăng của các cuộc đàm phán bị đình trệ kéo dài một phần được thúc đẩy bởi sự lo lắng về chính sách bảo hộ của chính quyền Trump. Thứ hai, việc CPTPP có hiệu lực đã tạo điều kiện thúc đẩy kết thúc RCEP. Trong khi vai trò của Nhật Bản trong việc cứu vãn khuôn khổ TPP là rất quan trọng sau khi chính quyền Trump quyết định rút khỏi hiệp định ban đầu, thì tác động kinh tế tiềm tàng từ CPTPP có phần thu nhỏ hơn nhiều. Do đó, việc theo đuổi các quy tắc thương mại tiêu chuẩn cao thông qua CPTPP là điều hợp lý, đồng thời tìm kiếm lợi ích kinh tế từ việc kết thúc các cuộc đàm phán RCEP. Tác động của CPTPP và RCEP sẽ bổ sung, đặc biệt đối với các quốc gia có thành viên kép như Nhật Bản và Australia.

Thứ ba, trong khi RCEP có thể hài hòa các rào cản và thủ tục phức tạp trong thương mại khu vực, tác động của RCEP sẽ nhẹ nhàng hơn. Nó chỉ đơn thuần thể hiện sự đồng thuận về mẫu số chung thấp nhất trong các tiêu chuẩn cho hàng hóa, dịch vụ, đầu tư và quyền sở hữu trí tuệ hơn là nhắm đến các tiêu chuẩn cao trong một số lĩnh vực. Nếu các quy tắc này trở thành chuẩn mực ở Đông Á, các tiêu chuẩn RCEP bị hạ thấp sẽ phân biệt rõ hơn mức quy tắc thương mại cao hơn trong CPTPP, vẫn được coi là tiêu chuẩn vàng.

Trên thực tế, bảy trong số mười sáu thành viên của RCEP đang tham gia CPTPP, và được khuyến khích xây dựng một liên minh để thúc đẩy đưa ra các quy tắc cao hơn trong cuộc đàm phán RCEP. Cuối cùng, mối quan hệ chặt chẽ hơn giữa hai nền kinh tế lớn nhất trong RCEP là Trung Quốc và Nhật Bản có thể giúp giảm thiểu tác động của căng thẳng gia tăng giữa Trung Quốc với Mỹ - nước nằm ngoài cả hai hiệp định. Trung Quốc và Nhật Bản đã có một số khó khăn chính trị mặc dù phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế. Trong các cuộc đàm phán RCEP, Nhật Bản tìm kiếm một thỏa thuận thương mại tiêu chuẩn cao, trong khi Trung Quốc dường như miễn cưỡng nâng cấp mức độ tự do hóa và tiêu chuẩn thương mại. Những cách tiếp cận khác nhau thường cản trở các cuộc đàm phán.

Ví dụ như tại hội nghị bộ trưởng ở Manila vào tháng 11 năm 2017, Trung Quốc đã tìm kiếm một kết luận nhanh chóng về các cuộc đàm phán với trọng tâm chỉ là giảm thuế đối với thương mại hàng hóa, trong khi cho phép nhiều trường hợp ngoại lệ đối với các điều khoản bị tranh chấp như quyền sở hữu trí tuệ. Mặt khác, Nhật Bản đã tìm kiếm một thỏa thuận toàn diện và chất lượng cao bao gồm các dịch vụ và đầu tư thay vì chỉ giảm thuế đối với hàng hóa.

Tuy nhiên, về mặt thực tế, kết thúc đàm phán RCEP có nghĩa là thành lập FTA thực tế giữa Trung Quốc và Nhật Bản, điều này sẽ tăng cường hơn nữa mối quan hệ kinh tế giữa hai thị trường lớn nhất châu Á thông qua sự kết hợp giữa lao động rẻ hơn và bí quyết công nghệ cao. Mặc dù Nhật Bản vẫn giữ quan điểm thận trọng và phê phán đối với các sáng kiến ​​kinh tế toàn cầu và khu vực của Trung Quốc, nhưng chủ nghĩa bảo hộ triệt để của chính quyền Trump với việc tăng thuế đối với các sản phẩm chính như ô tô đã khiến Nhật Bản xem xét khả năng hợp tác với Trung Quốc để xây dựng trật tự kinh tế khu vực như một cách giảm tác động tiêu cực của chủ nghĩa bảo hộ của Mỹ lên thương mại và đầu tư.

Tính toán chiến lược và kinh tế này đã mở đường cho chuyến thăm của Thủ tướng Shinzo Abe tới Bắc Kinh vào tháng 11 năm 2018, đưa quan hệ đi đúng hướng và nâng cao khả năng hợp tác mới thay vì cạnh tranh trong mối quan hệ Trung-Nhật. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng mặc dù hai nước đã nỗ lực cải thiện mối quan hệ của mình, Nhật Bản vẫn tiếp tục thận trọng về Sáng kiến ​​Vành đai và Con đường và nêu rõ lập trường của mình để tuân thủ các tiêu chuẩn cơ sở hạ tầng lâu đời của Ngân hàng Thế giới và Ngân hàng Phát triển Châu Á.

Hầu hết các thành viên RCEP đều cố gắng đưa ra tuyên bố về kết thúc đáng kể đàm phán tại hội nghị thượng đỉnh ngày 12/11/2018 vì sẽ có ý nghĩa pháp lý mở đường cho hiệp định dễ dàng được thông qua trong nước. Tuy nhiên, chỉ có bảy trong số mười tám chương, chủ đề hay đàm phán lớn, được thống nhất trong cuộc họp cấp bộ trưởng. Cuối cùng, các bộ trưởng RCEP quyết định hoãn thời hạn mục tiêu sang năm 2019. Quyết định này một phần được thúc đẩy bởi yêu cầu của Ấn Độ để chờ đợi cho đến khi cuộc tổng tuyển cử được tổ chức vào giữa năm 2019.

Là một nhà thiết kế ban đầu của FTA ASEAN +6, Nhật Bản sẽ được hưởng lợi rất nhiều từ RCEP, đặc biệt là quy định về quy tắc xuất xứ, có thể giúp khu vực hóa các mạng lưới sản xuất tinh vi hỗ trợ các hoạt động kinh doanh của Nhật Bản ở Đông Á. Mặc dù Nhật Bản có các FTA song phương với hầu hết các thành viên của RCEP, khía cạnh đa phương của quan hệ đối tác có thể hài hòa các quy tắc và quy định khác nhau của các thỏa thuận thương mại riêng lẻ. Trong năm 2014, thương mại nội bộ giữa các thành viên RCEP chiếm 42% thương mại, theo OECD. Nếu hiệp định có hiệu lực, con số này sẽ tăng lên, nhờ giảm các rào cản cấu trúc phức tạp và việc thực hiện các quy tắc và thủ tục hợp lý liên quan đến hải quan và cơ sở hạ tầng liên quan đến thương mại.

Một câu hỏi quan trọng sẽ được đặt ra khi cố gắng kết thúc đàm phán RCEP là liệu mối quan hệ đối tác có gây bất lợi cho Mỹ hay không và cuối cùng liệu đó có phải là một hồi chuông cảnh tỉnh để đẩy nhanh việc Mỹ quay trở lại CPTPP hay không. RCEP sẽ bao gồm tất cả các nước Đông Á, nơi các công ty sản xuất lớn đã thiết lập rộng rãi mạng lưới chuỗi cung ứng của họ. Thương mại nội khối sâu sắc hơn sẽ cho phép Trung Quốc tích lũy sức mạnh xuất khẩu cạnh tranh hơn với Mỹ vì hiệp định sẽ loại bỏ hoặc giảm đáng kể thuế quan đối với các thành phần sản xuất, như phụ tùng ô tô được xuất khẩu trên toàn khu vực, bao gồm cả Trung Quốc.

Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Trung Quốc đã trở thành đối tác thương mại lớn nhất đối với 14-15 thành viên RCEP, với Lào là một ngoại lệ. Sự phụ thuộc kinh tế nặng nề hơn vào Trung Quốc, nơi sẽ trở thành trung tâm kinh tế khu vực, sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến Mỹ theo hai cách. Một là, RCEP sẽ làm giảm sự phụ thuộc của châu Á vào thị trường Mỹ. Các sản phẩm và doanh nghiệp của Mỹ sẽ bị phân biệt đối xử ở thị trường Đông Á do mức thuế cao hơn đối với hàng xuất khẩu từ Mỹ, do đó ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế của Mỹ.

Các chuyên gia dự báo tác động kinh tế mô phỏng đối với tăng trưởng GDP sẽ triệt tiêu nền kinh tế Mỹ 0,16% nếu RCEP thành hiện thực. Hai là, RCEP bao gồm các đồng minh quan trọng của Mỹ như Nhật Bản, Hàn Quốc và Australia, và các đối tác chiến lược như Ấn Độ, Indonesia, Singapore và Việt Nam. Sự phụ thuộc kinh tế chặt chẽ hơn của các nước với Trung Quốc có thể mang lại cho Bắc Kinh đòn bẩy chiến lược đối với các đồng minh này của Mỹ.

Nếu RCEP thành công trong năm 2019 thì khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương có thể có ba FTA lớn (CPTPP, RCEP, và hiệp định đối tác kinh tế EU-Nhật Bản), mỗi hiệp định có một mức độ chất lượng khác nhau nhưng tất cả đều không có Mỹ.

Trung Quốc đã tích cực nỗ lực cải thiện mối quan hệ với các nước lớn trong khu vực, như Nhật Bản và Ấn Độ, nhằm giữ vai trò trong quá trình tái cấu trúc khu vực về thương mại, đầu tư và cơ sở hạ tầng, và do đó sẽ cố gắng hết sức để kết thúc đàm phán RCEP. Điều đáng ngạc nhiên là chính quyền Trump đã nhấn mạnh chủ nghĩa song phương và đánh giá thấp những điểm mạnh và lợi thế của chủ nghĩa đa phương đồng thời đang tìm cách củng cố vị thế của mình đối với Trung Quốc.

Việc Mỹ quay trở lại CPTPP sẽ đưa nước này trở lại bàn đàm phán trong quá trình thiết lập quy tắc khu vực và sẽ giúp ngăn chặn Nhật Bản và các quốc gia khu vực khác khỏi việc chuyển lợi ích kinh tế của họ sang Trung Quốc. Thuế quan không phải là một câu trả lời thích hợp cho các vấn đề thương mại trong hệ thống sản xuất toàn cầu hóa ngày nay với mạng lưới chuỗi cung ứng được thiết lập tốt. Việc áp thuế quan của Mỹ đối với Trung Quốc có nguy cơ tăng giá không chỉ đối với người tiêu dùng Mỹ mà còn đối với các nhà sản xuất Mỹ như Apple xuất khẩu sản phẩm của họ từ Trung Quốc sang Mỹ.

Nguồn: Báo Công thương